Sông Nhuệ vẫn cung cấp nước cho tưới tiêu và nuôi thủy sản. Ảnh: Ngọc Thành/VnExpress
Sông Nhuệ dài khoảng 75 km, bắt đầu từ cống Liên Mạc, nơi sông Nhuệ tiếp nước từ sông Hồng để phục vụ tưới tiêu hoặc bơm, xả ra sông Hồng để tiêu thoát nước cho khu vực phía Tây thành phố. Sông chảy qua nhiều quận, huyện của Hà Nội trước khi xuôi về Hà Nam và hợp lưu với sông Đáy tại Phủ Lý.
Nước sông Nhuệ - Đáy có chất lượng môi trường kém nhất trong năm lưu vực sông ở miền Bắc, nhưng vẫn được sử dụng trực tiếp cho tưới tiêu và nuôi thủy sản.
Trong bối cảnh đó, các nhà khoa học tại Đại học Phenikaa, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương và Đại học Vrije Brussel (Bỉ) đã tiến hành khảo sát những yếu tố ô nhiễm cùng tồn tại và tác động đồng thời trong lưu vực sông Nhuệ - Đáy,
Tháng 6/2022, nhóm nghiên cứu đã lấy mẫu nước và trầm tích ở ba vị trí trên sông và ba ao nuôi thủy sản gần các khu công nghiệp trong lưu vực.
Để chiết tách vi nhựa - những hạt nhựa có kích thước dưới 5mm, tiềm ẩn những mối nguy khó đoán định đối với hệ sinh thái và sức khỏe con người - nhóm sử dụng dung dịch CaCl2 - một cải tiến giúp thu hồi các loại nhựa "nặng". Đây là các loại nhựa có khối lượng riêng lớn hơn nước, khi vào môi trường nước có xu hướng chìm xuống đáy thay vì nổi lên - như PET, PVC... - và thường bị bỏ sót trong các nghiên cứu trước
Rác thải nổi trên mặt nước sông Nhuệ đoạn qua Tả Thanh Oai, tháng 10/2023. Ảnh: Ngọc Thành.
Kết quả cho thấy, vi nhựa hiện diện trong tất cả các mẫu nước bề mặt và trầm tích với nồng độ lần lượt là 0,17 - 6,2 µg/L và 3,74 - 31,23 mg/kg trọng lượng ướt.
Đáng chú ý, nồng độ vi nhựa tại các ao nuôi cá cao hơn đến 6,5 lần nồng độ tại các đoạn sông lân cận, cho thấy các ao nuôi cá đang là "bồn chứa" vi nhựa. Nhóm tác giả lý giải, có thể do nước ao tĩnh, tạo điều kiện cho vi nhựa lắng đọng và tích tụ theo thời gian, dẫn đến mức chênh lệch nói trên.
Các vị trí gần các khu công nghiệp như Kim Bình và Châu Sơn có mức độ ô nhiễm cao hơn rõ rệt so với khu dân cư. Điều này, theo nhóm nghiên cứu, cho thấy nước thải công nghiệp là nguồn phát sinh vi nhựa chính ở lưu vực sông Nhuệ - Đáy. Các cơ sở sản xuất tại đây có thể đã thải ra cả vi nhựa sơ cấp từ các quá trình như sản xuất hạt nhựa, dệt may, làm sạch bằng vật liệu mài mòn lẫn vi nhựa thứ cấp từ sự phân rã của rác nhựa trong các hệ thống xử lý kém hiệu quả.
Điểm đáng chú ý là, có 8 kim loại được tìm thấy trên bề mặt vi nhựa với nồng độ rất thấp và khó phát hiện (thuật ngữ gọi là kim loại vết). Đó là cadmium, chì, crom, đồng, asen, coban, niken, mangan với nồng độ từ 0,0004 đến 42,75 µg/g vi nhựa. Các kết quả phân tích xác nhận rằng vi nhựa là vật mang chất ô nhiễm, liên tục hấp thụ và trao đổi kim loại giữa các tầng môi trường nước và trầm tích.
Bên cạnh kim loại và vi nhựa, các gene kháng kháng sinh β-lactamases phổ rộng ESBL (blaCTX-M và blaTEM), có khả năng phá vỡ cấu trúc của nhiều kháng sinh quan trọng, cũng được phát hiện trong các mẫu nước gần điểm xả thải công nghiệp. Các gene kháng kháng sinh có thể tồn tại trong môi trường nước dưới dạng DNA tự do và được vi khuẩn thu nhận. Theo nhóm nghiên cứu, kết quả phân tích chưa cho thấy mối liên hệ trực tiếp rõ ràng giữa gene kháng kháng sinh với vi nhựa, có thể do hạn chế trong phương pháp tách màng sinh học. Tuy nhiên, theo lý thuyết về "plastisphere" (lớp màng sinh học trên nhựa), có khả năng vi nhựa cũng góp phần phát tán gene kháng kháng sinh tại lưu vực sông Nhuệ - Đáy.
Trước đó, một nghiên cứu năm 2024 của nhóm đã tìm ra bằng chứng đầu tiên về việc vi nhựa lan truyền vi khuẩn và gene kháng kháng sinh ở đồng bằng sông Hồng.
Dựa trên Chỉ số Tải lượng Ô nhiễm (PLI) và Chỉ số Rủi ro Sinh thái Tiềm tàng (PERI), nhóm nghiên cứu kết luận, lưu vực sông Nhuệ - Đáy ở mức ô nhiễm "trung bình" và mức rủi ro từ "trung bình" đến "đáng kể".
"Sự hội tụ của vi nhựa, kim loại vết và gene kháng kháng sinh tạo ra nguy cơ tác động cộng hưởng tới hệ sinh thái và sức khỏe con người, đặc biệt khi nguồn nước ô nhiễm này được sử dụng trực tiếp để tưới lúa, rau và nuôi thủy sản", nhóm nghiên cứu viết trong bài báo mới được công bố trên tạp chí Environmental Science and Pollution Research vào tháng 3/2026.
Trong số các vị trí được khảo sát, các ao nuôi thủy sản gần khu công nghiệp có mức rủi ro cao nhất, cho thấy một vấn đề đáng lo ngại về an toàn thực phẩm khi kim loại và vi nhựa có thể tích lũy qua chuỗi thức ăn và ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Để dễ hình dung: sau khi cá trực tiếp nuốt phải vi nhựa hoặc thông qua con mồi, vi nhựa và các kim loại nặng trên vi nhựa có thể được giải phóng trong môi trường axit của dạ dày cá, dẫn đến tích tụ độc chất trong các mô thịt.
Theo nhóm nghiên cứu, những phát hiện mới đặt ra nhu cầu cấp thiết phải thiết lập các chương trình quan trắc định kỳ vi nhựa và các chất ô nhiễm liên quan tại các hệ thống sông ở Việt Nam, đặc biệt là những nguồn nước phục vụ sản xuất lương thực, thực phẩm. Đồng thời, cần có các biện pháp kiểm soát nguồn thải từ các khu công nghiệp và cải thiện quản lý chất thải nhựa ở khu vực thượng nguồn.
Trong bối cảnh dữ liệu toàn diện về phân bố vi nhựa và các chất ô nhiễm đi kèm tại Việt Nam vẫn còn thiếu hụt, nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam và Bỉ đã bổ sung một mảnh ghép, góp phần tạo cơ sở cho việc xây dựng các chính sách môi trường và bảo vệ sức khỏe cộng đồng dựa trên bằng chứng.
---
Tài liệu tham khảo:
Le, T.T., Vo, H.H., Nguyen, T.T. et al. Combined risks of microplastics, trace metals, and antimicrobial resistance in the Nhue–Day River Basin, Vietnam. Environ Sci Pollut Res (2026). https://doi.org/10.1007/s11356-026-37522-4