Câu chuyện ngoại giao bị bụi mờ lịch sử che phủ suốt hơn 400 năm này được hé mở một cách tình cờ.
Chẳng là vài năm trước, tôi có viết trên Facebook về chuyện Trạng Bùng - Phùng Khắc Khoan khi đi sứ Trung Quốc năm 1597 đã kết bạn thơ văn tri kỷ với sứ thần Triều Tiên Lý Túy Quang, sau đó, cụ còn được mời sang Triều Tiên để tham quan và lưu lại một thời gian trước khi về nước.
Để minh họa, tôi đính kèm một bức họa truyền thần của cụ Phùng Khắc Khoan sưu tầm trên mạng. Bất ngờ, một người bạn Trung Quốc vào để lại bình luận dưới bức ảnh: "Đây có phải là Phùng Khắc Khoan không?"
Tôi quá đỗi ngạc nhiên. Đây là người bạn Trung Quốc tôi quen qua một hội nghị về Vật lý Thiên văn ở Úc. Dù anh có yêu lịch sử đến mấy, sao có thể biết và nhận ra một nhân vật vốn không phải là người quá nổi tiếng trong dòng chảy lịch sử Việt Nam? Ngay cả một người Việt bình thường, nhìn bức ảnh chưa chắc đã nhận ra cụ Trạng Bùng, chứ đừng nói một nhà khoa học nước ngoài!
Tôi bèn hỏi: "Làm sao cậu biết?" Anh bạn trả lời ngay: "Tôi rất quan tâm đến lịch sử Trung Quốc thời Minh mạt. Lúc đó, các quan lại triều đình phần lớn là tham nhũng hoặc bất tài. Triệu Bang Thanh là một nhân tài liêm khiết hiếm hoi. Và ông lại được chính Phùng Khắc Khoan tiến cử!"
Tranh thờ Phùng Khắc Khoan (1528-1613) chụp từ Từ điển văn học (bộ mới) do Nxb Thế giới ấn hành năm 2004, đã được tăng độ phân giải bởi AI.
Là một người đọc nhiều sử Việt, tôi chưa bao giờ nghe thấy thông tin này - một ông quan Việt Nam đi sứ tiến cử một ông quan Trung Quốc cho chính vua Trung Quốc! Tôi đem chuyện hỏi một số người bạn uyên thâm về Hán học và lịch sử Trung Quốc, nhưng có vẻ họ cũng chưa từng đọc qua. Tiếc là sau đó tôi mất liên lạc với người bạn Trung Quốc kia nên không hỏi được thêm chi tiết.
Quyết tâm tìm ra sự thật, tôi liền hợp tác với anh bạn là chuyên gia nghiên cứu lịch sử Việt Nam bắt tay vào tra cứu toàn bộ thư tịch cổ và các cổng thông tin di sản của Trung Quốc mà chúng tôi có thể tìm được.
"Bức tường" ngăn cách từ một lỗi dịch thuật định mệnh
Khi lội ngược dòng tìm kiếm các tư liệu nghiên cứu tại Việt Nam để kiểm chứng, tôi tìm thấy một tài liệu khảo cứu vô cùng giá trị của tác giả Phùng Diệu Linh lưu trữ trên hệ thống dữ liệu khoa học công nghệ quốc gia (vista.gov.vn) mang tên Vài nét về văn bản Lữ hành ngâm tập (ký hiệu AB.447) [1].
Trước đây, công trình san định lớn Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành (Bộ sưu tập các tư liệu Hán văn về các chuyến đi sứ của Việt Nam sang Trung Quốc, do Đại học Phục Đán, Thượng Hải, xuất bản tháng 6/2010) từng cho rằng Lữ hành ngâm tập (Tập thơ ngâm trên đường đi) là một tập thơ đi sứ độc lập của Phùng Khắc Khoan.
Thế nhưng, qua nghiên cứu văn bản học tinh xảo, tác giả Phùng Diệu Linh đã chứng minh tập Lữ hành ngâm tập (AB.447) thực chất là một tập sách chép lại thơ của nhiều tác giả khác nhau. Phần đầu tập sách chép lẫn thơ của các nhà thơ đi sứ khác như Nguyễn Trung Ngạn (thời Trần) và Nguyễn Tông Quai (thời Lê Trung hưng); trong khi phần sau chính là các bài thơ được chép lại từ tập thơ gốc Mai Lĩnh sứ hoa thi tập (Tập thơ đi sứ Trung Hoa qua cửa ải Mai Lĩnh) của Phùng Khắc Khoan.
Nghiên cứu cũng chỉ ra: Trong bản chép tay AB.447, bài thơ ghi lại cuộc gặp gỡ giữa Phùng Khắc Khoan và Triệu Bang Thanh mang tiêu đề Dữ Thắng doãn Triệu hầu tương kiến (Gặp gỡ Triệu hầu, quan Tri huyện Đằng huyện). Ngoài ra, trong tập thơ gốc Mai Lĩnh sứ hoa thi tập, cụ Phùng còn ghi lại một bài thơ quan trọng khác là Đề Triệu hầu họa tượng đồ (Đề thơ lên bức tranh vẽ chân dung Triệu hầu).
Tuy nhiên, bài báo của Phùng Diệu Linh lúc đó chỉ dừng ở việc khảo sát văn bản AB.447 và ghi nhận địa danh "Thắng huyện" theo đúng nguyên văn chữ Hán trong bản chép tay. Do trên bản đồ Trung Hoa không hề có "Thắng huyện", giới nghiên cứu trong nước nếu có muốn tra cứu sâu hơn cũng sẽ rơi vào ngõ cụt.
Sự tắc nghẽn thông tin suốt nhiều thế kỷ này rất có thể là hệ lụy từ việc "tam sao thất bản" kinh điển của chữ Hán cổ. Trong lối viết nhanh (Hành thư/Thảo thư) bằng bút lông, chữ Đằng (滕) và chữ Thắng (勝) có tự dạng cực kỳ giống nhau. Có lẽ người chép tay lại tập thơ năm xưa đã nhìn nhầm, kéo theo các nhà dịch thuật nước ta dịch nhầm theo. Địa danh chính xác trong thực tế phải là Đằng huyện (滕縣) và viên quan có duyên nợ tri kỷ với Trạng Bùng chính là vị quan thanh liêm nổi tiếng triều Minh: Triệu Bang Thanh (趙邦清).
Triệu Bang Thanh (1558 – 1622) quê ở huyện Chính Ninh, tỉnh Cam Túc, từng đảm nhận chức vụ Huyện lệnh Đằng huyện (nay thuộc tỉnh Sơn Đông) trong khoảng thời gian từ năm 1593 đến năm 1598.
Hội ngộ và cuộc tiến cử với Hoàng đế nhà Minh
Trái ngược hoàn toàn với câu chuyện "bỏ lửng" ở phía Việt Nam, chương lịch sử này lại được sử sách Trung Quốc chép lại chi tiết và trang trọng vô cùng.
Sách khảo cứu Thiện quốc thanh phong - Cổ Đằng tiên hiền thanh quan liêm lại (Những bậc tiên hiền, quan thanh liêm của đất Cổ Đằng) viết:
Năm Vạn Lịch thứ 21 (1593), Triệu Bang Thanh được bổ nhiệm làm Tri huyện huyện Đằng. Trong thời gian tại nhiệm, ông minh xét việc công, bí mật đi điều tra, lắng nghe nỗi khổ của dân chúng, trấn áp bọn hào cường ác bá. Không quản nhọc nhằn, ông đo đạc ruộng đất, kiểm tra lại sổ bộ điền thổ, khiến ruộng đất được trả về đúng chủ, thuế khóa được quy đúng từng hộ. Ông còn đích thân thực hành và phổ biến các kỹ thuật canh tác mới, giáo hóa dân chúng. Năm Vạn Lịch thứ 26 (1598), chánh sứ nước An Nam (nay là Việt Nam), Thượng thư Bộ Lễ là Phùng Khắc Khoan, trên đường đi qua huyện Đằng, nghe tiếng thanh liêm của Triệu Bang Thanh liền hết lời ca ngợi rằng: "Từ khi bước vào cõi Trung Quốc, những châu huyện ta đi qua chưa nơi nào thanh liêm được như Triệu Bang Thanh, trong sạch đến mức không vướng một hạt bụi nào." Năm Vạn Lịch thứ 41 (1613), Minh Thần Tông ban chiếu khen ngợi, ca rằng Triệu Bang Thanh giữ vững sự thanh bạch. Tháng Sáu năm Thiên Khải thứ nhất (1621), do thành tích cai trị huyện Đằng đặc biệt xuất sắc, ông được thăng chức Chủ sự Ty Nghiệm phong thuộc Bộ Lại. Đến năm Vạn Lịch thứ 27 (1599), ông tiếp tục được thăng làm Lang trung Ty Kê huân thuộc Bộ Lại.
... Do Triệu Bang Thanh có thành tích cai trị huyện Đằng đặc biệt xuất sắc, lại được những lời ca ngợi của sứ thần An Nam, Hoàng đế Vạn Lịch, vốn đang khát khao tìm kiếm hiền tài, lập tức hạ chiếu triệu Triệu Bang Thanh vào kinh, thăng bổ làm Chủ sự Ty Nghiệm phong thuộc Bộ Lại. [2]
Hai người hẳn đã gặp nhau, cùng uống rượu họa thơ. Vì thế mới có bài Dữ Đằng doãn huyện Triệu hầu tương kiến trong Lữ hành ngâm tập của Phùng Khắc Khoan. Sau bài thơ có đoạn Triệu Bang Thanh tán tụng Phùng Khắc Khoan: "học vấn sâu xa, chữ nghĩa thần diệu" và gọi ông là "tài năng bậc nhất" (đích đệ nhất tài phẩm) [3].
Tấm biển "Thanh,Thanh, Thanh" do sứ thần Việt Nam Trần Đức Ý viết ở từ đường họ Triệu, Cam Túc, trong đó ba chữ được viết theo ba thể khác nhau, được cho là "bút pháp thần kỳ bay bổng, nét chữ đạt đến chỗ huyền diệu, ý tứ cao nhã thoát tục". Nguồn: Sách 'Thiện quốc thanh phong', trang 131
"Thanh, Thanh, Thanh"
Chứng tích đắt giá nhất củng cố tính xác thực của các ghi chép nêu trên là một tấm bia cổ hiện nằm tại Triệu thị từ đường (Nhà thờ họ Triệu) nơi cổ thành La Xuyên, huyện Chính Ninh, tỉnh Cam Túc - vùng đất nội địa xa xôi giáp ranh cao nguyên Hoàng Thổ. Ngôi từ đường đã được Quốc vụ viện Trung Quốc công nhận là Di tích văn hóa cấp quốc gia từ năm 2006.
Sách khảo cứu Thiện quốc thanh phong – Cổ Đằng tiên hiền thanh quan liêm lại còn chụp một tấm biển có ba chữ "Thanh, Thanh, Thanh" rất lớn (thanh nghĩa là thanh liêm, thanh sạch). Phần chữ nhỏ (lạc khoản) khắc trên rìa tấm biển ghi rõ: "An Nam quốc hành nhân Trần Đức Ý thư" (Được viết bởi vị hành nhân nước An Nam là Trần Đức Ý).
Website của Viện Nghiên cứu Lịch sử Đảng Thành ủy Tảo Trang – Viện Nghiên cứu Địa phương chí TP Tảo Trang cho hay ba chữ "Thanh, Thanh, Thanh" do Phùng Khắc Khoan tặng [4].
Thủ pháp ba chữ thanh rất tinh diệu, được lễ bộ chủ sự nhà Minh là Văn Tại Trung 文在中 ca ngợi hết lời:
Tháng Tư mùa hạ năm Vạn Lịch thứ 24, chánh sứ An Nam, Thượng thư Bộ Lễ Phùng Khắc Khoan trên đường vào triều cống đi qua huyện Đằng. Ông hết lời ca ngợi rằng: "Từ khi bước vào cõi Trung Quốc, những châu huyện mà tôi đi qua chưa nơi nào thanh liêm được như Triệu Bang Thanh, trong sạch đến mức không vướng một hạt bụi nào." Rồi ông tặng ba chữ lớn "Thanh, Thanh, Thanh" (清、清、清), sai hành nhân Trần Đức Ý viết lại. Lại nữa, ba chữ "Thanh" ấy, phần ba chấm thủy (氵), ba chữ chủ (主) và ba chữ nguyệt (月) đều dùng những thể chữ khác nhau; bút pháp thần kỳ bay bổng, nét chữ đạt đến chỗ huyền diệu, ý tứ cao nhã thoát tục. Ai dám nói rằng ngoại quốc không có người tài? Các con Triệu Bang Thanh là Nhậm Hiền và Sùng Hiền đã cho khắc các chữ này lên bia đá. [5]
Nét chữ chính là một "vân tay lịch sử", chứng minh dấu ấn thực tế của người Việt trên đất Trung Hoa còn nguyên vẹn sau hơn 400 năm.
Lịch sử ngoại giao phong kiến thường ghi lại những bản hiệp ước, những cuộc phân định biên giới hay những màn đối đáp căng thẳng trên nghị trường. Thế nhưng, đôi khi còn có những giá trị bền vững được kết tinh từ sự thấu hiểu giữa những tâm hồn chính trực vượt qua ranh giới quốc gia mà việc anh bạn tiến sĩ vật lý người Trung Quốc ngày hôm nay - sau hơn bốn thế kỷ - vẫn nhắc về cụ Phùng Khắc Khoan với lòng ngưỡng mộ vì đã phát hiện và bảo vệ một viên quan tài năng và thanh liêm cho đất nước họ, là một thí dụ.
Tấm biển "Thanh, Thanh, Thanh" phủ bụi thời gian ở Cam Túc lật mở cho chúng ta một niềm tự hào khác đến từ việc cha ông ta đã dùng con mắt tinh tường và sự chính trực để thu phục lòng người, để lại tiếng thơm trên đất khách quê người.
Chú thích:
[1] Phùng Diệu Linh, Vài nét về văn bản Lữ hành ngâm tập (kí hiệu AB.447), Tạp chí Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tr. 26-33. 2017
[2] Mã Sĩ Sinh (chủ biên), Từ Hội, Cam Thiết Quân, Trần Bồi Vũ (phó chủ biên), Thiện quốc thanh phong - Cổ Đằng tiên hiền thanh quan liêm lại (善国清风 古滕先贤清官廉吏), NXB Hoàng Hà (黄河出版社), 2015, tr. 115 - 128.
[3] Trương Hoan (张欢), Huyện quan và trinh liệt: Hai chiều kích quan trọng trong so sánh văn học cổ đại Trung - Việt - lấy bản chép tay Hán văn Việt Nam Lữ hành ngâm tập làm trung tâm" (县官与贞烈:古代中越文学比较的两个重要维度 - 以越南汉文抄本《旅行吟集》为中心), Nhân văn khoa học (人文科學), số 133, tháng 4/2025, tr. 40, DOI: 10.23017/inmun.2025.133..37
[4] Viện Nghiên cứu Lịch sử Đảng Thành ủy Tảo Trang - Viện Nghiên cứu Địa phương chí TP Tảo Trang, Triệu Bang Thanh: thanh chính liêm minh, cương chính lập triều 赵邦清:清正廉明 刚正立朝, http://www.zzdsw.com/zbqy/qldf/202304/t20230417_1647514.html
[5] Ngô Cảnh Sơn (吴景山) biên, Khánh Dương kim thạch bi minh tinh hoa (庆阳金石碑铭菁华), Lan Châu: NXB Văn hóa Cam Túc (甘肃文化出版社), 2013.