Các quy định hiện hành đã có tiêu chuẩn tính toán hệ thống thoát nước, đồng thời có quy định về dự báo, cảnh báo mưa lớn và ngập lụt. Nhưng để biến một bản tin "mưa lớn" thành một cảnh báo có ý nghĩa trực tiếp với người dân, chẳng hạn "khu vực A có thể ngập 30–50 cm trong hai giờ tới", cần kết nối dự báo mưa với dữ liệu về địa hình, mạng lưới thoát nước và điều kiện hạ lưu, rồi mô phỏng diễn biến ngập theo không gian và thời gian.
Khoảng trống từ "dự báo mưa" đến "dự báo ngập" chính là một trong những vấn đề cần được nhìn rõ hơn trong quản lý ngập đô thị hiện nay.
Mưa lớn gây ngập lụt ở Hải Phòng, ngày 9/7/2026. Ảnh: Lê Tân
Khoảng trống giữa tiêu chuẩn và thực tế
Hệ thống thoát nước đô thị được thiết kế đáp ứng chu kỳ lặp lại của trận mưa tính toán nhất định. Khi lượng mưa vượt quá tần suất thiết kế, hệ thống thoát nước sẽ quá tải và phát sinh ngập.
Cụ thể, với đô thị trung tâm loại I và đô thị đặc biệt, QCVN 01:2026/BXD quy định chu kỳ lặp lại trận mưa gây tràn cống tối thiểu đối với cống chính là 5 năm, tương đương trong một năm bất kỳ, xác suất xảy ra trận mưa đó là khoảng 20%. Khi gặp những trận mưa lớn hơn thiết kế, cần chuyển sang cảnh báo, quản lý rủi ro và tổ chức ứng phó ngập lụt.
Quy chuẩn đặt ra một điều kiện thiết kế, nhưng điều kiện ấy được xác định từ những dữ liệu mưa nào, và chúng còn phản ánh đúng thực tế hiện nay hay không?
TCVN 7957:2023 đã bổ sung hệ số K để xét tác động của biến đổi khí hậu trong tương lai. Tuy nhiên, các hằng số khí hậu của công thức cường độ mưa trong Phụ lục để tính cường độ mưa cho các thành phố về cơ bản vẫn giữ nguyên so với TCVN 7957:2008 (chỉ có một số địa phương thay đổi, như TP.HCM, Hưng Yên, Huế, Sa Pa và Bảo Lộc), trong khi lượng mưa thực tế tại các địa phương đã có nhiều thay đổi lớn.
Mặt khác, các tham số này vẫn là những giá trị được quy định theo từng địa phương, trong khi đặc trưng mưa có thể tiếp tục thay đổi theo không gian và thời gian và khác biệt ngay trong cùng một địa phương. Vì vậy, cần thường xuyên cập nhật số liệu mưa thực tế để xác định cường độ mưa thiết kế phù hợp, thay vì chỉ sử dụng các giá trị cố định trong bảng tra.
Đơn cử, số liệu quan trắc tại Đà Nẵng trong hơn 13 năm qua ghi nhận 7 trận mưa có cường độ trên 80 mm/h (biểu đồ), trong khi chuỗi số liệu của giai đoạn 1979–2012 chưa ghi nhận mức nào vượt ngưỡng này. Khi cập nhật dữ liệu đến năm 2025, tính toán cho thấy lượng mưa một giờ ở mức 77,79 mm hoặc cao hơn có xác suất xảy ra khoảng 20% trong một năm.
Trong khi đó, nếu lấy các tham số mà tiêu chuẩn TCVN 7957:2023 quy định cho Đà Nẵng, rồi đưa vào công thức tính để xác định lượng mưa dùng làm cơ sở thiết kế hệ thống thoát nước, giá trị tính toán sẽ vào khoảng 67,3 mm/h, thấp hơn rất nhiều so với thực tế. Điều này cho thấy cần liên tục cập nhật số liệu mưa thực tế để phục vụ bài toán thiết kế và quản lý hệ thống thoát nước hiện tại kịp thời ứng phó khi có mưa lớn xảy ra.
Đồng thời, ngoài việc cập nhật lượng mưa theo thực tế thì cách tính thủy lực cũng rất quan trọng. Trong TCVN 7957:2023 đã có hướng dẫn về tính toán thủy lực, xác định dòng chảy vào hệ thống thoát nước mưa theo hai bước: xác định sơ bộ kích thước công trình, sau đó kiểm tra bằng mô hình thủy lực và điều chỉnh khi cần thiết.
Tuy nhiên, với những khu vực mà tiêu thoát nước phụ thuộc vào điều kiện hạ lưu, cần xác định kích thước cống theo các chế độ chảy thực tế như: dòng chảy đều, có áp, bán áp, hoặc tính toán mạng lưới cống dưới sự ảnh hưởng của mực nước sông, thủy triều và nước dâng do bão, áp thấp...
Các quy định bao trùm hơn sẽ giúp đô thị có cơ sở tính toán thống nhất, lựa chọn phương pháp phù hợp với từng loại cống, hệ thống thoát nước và điều kiện thực tế của từng khu vực.
Dự báo mưa chưa trả lời được ngập ở đâu, sâu bao nhiêu
Theo Quyết định 18/2021/QĐ-TTg, cấp độ rủi ro do mưa lớn chủ yếu được xác định trên cơ sở lượng mưa trong 12 giờ, 24 giờ và 48 giờ. Trong khi đó, ngập lụt đô thị phụ thuộc cả vào cường độ mưa thời đoạn ngắn (từ một đến ba giờ), phân bố không gian của mưa, năng lực hệ thống thoát nước, trạm bơm, địa hình và mực nước hạ lưu. Do đó, cảnh báo rủi ro với thời gian dài như vậy chưa đủ để phục vụ trực tiếp dự báo và ứng phó ngập đô thị.
Mặt khác, các lớp thông tin lượng mưa và thông tin về năng lực hệ thống thoát nước chưa được kết hợp để đưa thành một dự báo ngập đô thị có tính cụ thể, hữu ích, trực quan sinh động cho người dân và nhà quản lý ứng phó. Một bản tin dự báo mưa trong 24-48 giờ vì vậy chưa tự nó cho biết khu vực nào sẽ ngập, ngập sâu bao nhiêu và trong bao lâu.
Chúng tôi cho rằng, cần bổ sung dự báo mưa ngắn hạn với bước thời gian và độ phân giải chi tiết hơn, đồng thời xây dựng bản đồ nguy cơ, rủi ro ngập để kết hợp với dự báo mưa, xác định khu vực, độ sâu và thời gian ngập.
Theo đó, các tỉnh thành Việt Nam cần từng bước xây dựng chuỗi: Dự báo mưa ngắn hạn → Dự báo ngập đô thị → Bản đồ ngập/rủi ro → Cảnh báo → Phương án ứng phó.
Hướng tới xây dựng bản đồ ngập theo thời gian thực
Nên có đủ các công cụ phục vụ ứng phó với ngập lụt và gắn trách nhiệm cho đơn vị và cá nhân thực hiện. Việc cảnh báo sớm cần được kết nối với bản đồ nguy cơ, rủi ro ngập lụt đô thị, cho biết khu vực có khả năng ngập, diện tích, độ sâu và thời gian ngập dự kiến, để các cơ quan quản lý và người dân chủ động ứng phó.
Về nguyên tắc, khi mưa nhỏ hơn hoặc bằng thiết kế, cần bảo đảm hệ thống thoát nước đủ năng lực theo quy định; khu vực chưa đáp ứng cần có kế hoạch, lộ trình khắc phục cụ thể.
Khi mưa vượt điều kiện thiết kế, cần có bản đồ rủi ro ngập đô thị theo các kịch bản mưa và phương án ứng phó phù hợp.
Hiện nay, Sở Xây dựng quản lý hệ thống thoát nước đô thị, nắm mạng lưới cống, năng lực tiêu thoát và các điểm yếu của hệ thống. Sở Nông nghiệp và Môi trường tham mưu về phòng, chống thiên tai và phương án ứng phó.
Do đó, chúng tôi cho rằng, tới đây các nhà quản lý nên xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp và trách nhiệm xây dựng, quản lý, cập nhật bản đồ rủi ro ngập lụt đô thị, gắn với hệ thống dự báo và cảnh báo. Tất cả những công cụ này đều rất cần thiết ở các đô thị hiện nay.
Một bản đồ rủi ro ngập lụt cần được xây dựng theo ba cấp độ mưa, gồm: (1) Mưa tương ứng điều kiện thiết kế; (2) Mưa vượt điều kiện thiết kế ở mức nhất định; và (3) Mưa theo các trận mưa lịch sử điển hình. Với mỗi cấp độ, bản đồ cần xác định rõ khu vực, diện tích, độ sâu và thời gian ngập làm cơ sở xây dựng cảnh báo và phương án ứng phó phù hợp.
Cần tiếp cận bài toán thoát nước đô thị trên toàn lưu vực
Bài toán thoát nước chống ngập đô thị cần được xem xét toàn diện từ lưu vực đến cửa ra, không chỉ giải quyết cục bộ nhằm giảm ngập tại một vị trí cụ thể. Đặc biệt, khi mưa lớn vượt điều kiện thiết kế, hệ thống cống có thể bị quá tải, nước tràn trên mặt đất và không còn tuân theo ranh giới các lưu vực thoát nước. Điều này dẫn đến hiện tượng chuyển dòng, đan xen giữa các lưu vực và tập trung nước về các khu vực trũng thấp.
Vì vậy, cần đánh giá thủy văn - thủy lực trên toàn bộ lưu vực, xét đồng thời hệ thống thoát nước cùng các dòng chảy trên mặt đất, kênh, sông, hồ điều hòa và điều kiện hạ lưu. Mục tiêu là xác định hướng dòng chảy và sự trao đổi nước giữa các lưu vực. Đây là cơ sở để đánh giá tác động của san nền, phát triển đô thị, đồng thời xây dựng các phương án kiểm soát và ứng phó ngập khi xảy ra mưa lớn.