Mỗi kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia không chỉ tạo ra những điểm số giúp đánh giá năng lực người học, mà còn nhằm đáp ứng niềm tin của xã hội rằng quá trình học tập và nỗ lực của tất cả các thí sinh đang được ghi nhận bằng cùng một chuẩn mực.
Trước những diễn biến liên quan đến kết quả môn Toán tại điểm thi Trường THPT chuyên Tuyên Quang trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 mới đây, phản ứng đầu tiên của xã hội là nghi vấn. Nghi vấn ấy vốn không phải bỗng dưng mà có. Nó luôn tiềm ẩn, trong cách xã hội chưa hoàn toàn yên tâm về một hệ thống đánh giá, rằng liệu nó có đủ công bằng, phân bổ cơ hội và xác nhận giá trị ghi nhận nỗ lực cá nhân người học.
Một kỳ thi gánh vác quá nhiều kỳ vọng
Trong giáo dục hiện đại, các kỳ thi chuẩn hóa không đơn thuần là công cụ đo lường kiến thức. Chúng còn giữ vai trò như một cơ chế phân phối những cơ hội giáo dục và nghề nghiệp có ảnh hưởng lâu dài đến tương lai của người học. Một kết quả tốt từ kỳ thi có thể mở cánh cửa vào một trường đại học phù hợp, từ đó tạo điều kiện để người học tiếp cận tri thức chuyên môn, mạng lưới xã hội và những cơ hội nghề nghiệp rộng mở hơn.
Trường THPT chuyên Tuyên Quang, nơi có điểm thi tốt nghiệp môn toán cao bất thường năm nay. Ảnh:Thanh Hằng
Chính vì vậy, xã hội trao cho kỳ thi một kỳ vọng rất lớn. Học sinh chấp nhận nhiều năm chuẩn bị vì kỳ vọng rằng nỗ lực của mình sẽ được đánh giá công bằng. Gia đình đầu tư thời gian và nguồn lực vì kỳ vọng rằng sự cố gắng sẽ được ghi nhận. Các trường đại học sử dụng kết quả làm căn cứ để tuyển chọn người học. Nhưng cũng chính từ vai trò phân phối cơ hội ấy, kỳ thi bắt đầu được gán thêm nhiều kỳ vọng vượt ra ngoài mục tiêu đánh giá ban đầu.
Điểm số trong kỳ thi tốt nghiệp THPT hiện nay còn mang theo kỳ vọng về chỉ dấu chất lượng đào tạo của nhà trường, hiệu quả quản lý giáo dục của địa phương và thành tích của những người tham gia vào quá trình giáo dục. Tuy nhiên, những kỳ vọng này không thể dựa trên cùng một logic đánh giá.
Bản chất kỳ thi tốt nghiệp THPT trước hết hướng đến việc xác nhận người học đã đạt chuẩn đầu ra sau 12 năm giáo dục phổ thông. Nhiệm vụ trung tâm của nó là đánh giá một học sinh có đạt được nền tảng kiến thức và năng lực cần thiết để hoàn thành bậc học hay không. Vì vậy, một kỳ thi tốt nghiệp cần bảo đảm tính bao quát, ổn định và phù hợp với số đông người học.
Trong khi đó, tuyển sinh đại học lại vận hành theo một logic khác. Khi cơ hội vào những ngành học hoặc cơ sở đào tạo có tính cạnh tranh luôn có giới hạn, hệ thống tuyển sinh cần một công cụ có khả năng phân loại mạnh để chỉ ra sự khác biệt giữa những người học có trình độ gần nhau, đặc biệt ở nhóm có năng lực cao. Một kỳ thi hướng đến xác nhận chuẩn chung và một kỳ thi hướng đến lựa chọn trong cạnh tranh vì thế không hoàn toàn giống nhau về mục tiêu thiết kế.
Đối với mục tiêu đánh giá chất lượng của một trường học hay hoạt động quản lý giáo dục một địa phương lại cần một cách tiếp cận dài hạn hơn. Chất lượng giáo dục không thể chỉ được phản ánh qua tỷ lệ tốt nghiệp, số lượng điểm cao hay kết quả của một kỳ thi diễn ra trong vài ngày. Nó còn phụ thuộc vào quá trình tiến bộ của người học, điều kiện giáo dục, năng lực giáo viên và khả năng chuẩn bị cho học sinh phát triển lâu dài.
Khi một kỳ thi được kỳ vọng cùng lúc xác nhận năng lực người học, tuyển chọn cơ hội đại học và phản ánh chất lượng của cả hệ thống giáo dục, điểm số bắt đầu mang sức nặng vượt xa chức năng đo lường ban đầu. Điều đó khiến cho quyền lực của điểm số trở nên quá lớn, gắn với lợi ích của nhiều chủ thể: người học cần điểm số để mở rộng cơ hội tương lai; gia đình mong muốn sự đầu tư được ghi nhận; nhà trường và địa phương cần chứng minh chất lượng giáo dục.
Gian lận thi cử vì vậy không chỉ là vấn đề đạo đức của một vài cá nhân mà còn phản ánh thực tế là điểm số đã trở thành nơi hội tụ quá nhiều lợi ích, dẫn tới nguy cơ xuất hiện những hành vi tìm cách tác động vào điểm số cũng tăng lên.
Quy chế không đủ để bảo vệ sự công bằng của kỳ thi
Lịch sử chống tiêu cực thi cử ở Việt Nam cho thấy hệ thống không đứng yên trước sai phạm. Sau mỗi vụ việc lớn, những thay đổi về quy chế đều được đưa ra.
Năm 2006, tại Hội đồng thi THPT Phú Xuyên A (Hà Nội), thầy giáo Đỗ Việt Khoa tố cáo tình trạng giám thị bỏ vị trí, nhân viên nhà trường đưa bài giải vào phòng thi cho thí sinh. Theo phản ánh được báo chí ghi nhận, lời giải được ngụy trang trong thùng đựng đồ ăn, thức uống rồi chuyển vào khu vực thi. Vụ việc không chỉ phơi bày hành vi hỗ trợ thí sinh gian lận, mà còn cho thấy sự thất bại của cơ chế giám sát ngay trong phòng thi. Ngành giáo dục đã phát động cuộc vận động chống tiêu cực thi cử và bệnh thành tích. Trọng tâm khi đó là lập lại kỷ luật phòng thi, nâng cao trách nhiệm của cán bộ coi thi và thay đổi nhận thức về thành tích.
Hình ảnh học sinh chép bài từ đáp án do giám thị ném vào phòng thi tại Trường THPT Dân lập Đồi Ngô (Bắc Giang) do học sinh phản ánh. Nguồn: VnExpress
Năm 2012, tại Trường THPT Dân lập Đồi Ngô, Bắc Giang, hai học sinh dùng thiết bị ghi hình để phản ánh cảnh giám thị để xảy ra tình trạng đưa tài liệu vào phòng thi. Sau thanh tra, nhiều cán bộ, giáo viên, nhân viên bị kỷ luật. Vụ việc cho thấy nếu người có trách nhiệm bảo vệ quy chế lại trở thành một phần của sai phạm, mọi lớp quy định trên giấy đều có thể bị vô hiệu hóa. Ngay lập tức, các quy định về coi thi, thanh tra, trách nhiệm hội đồng thi tiếp tục được siết chặt.
Đến năm 2018, các vụ gian lận điểm thi tại Hà Giang, Sơn La và Hòa Bình tạo ra chấn động lớn hơn. Rủi ro không còn chỉ nằm trong phòng thi, mà dịch chuyển sang khâu xử lý dữ liệu sau thi. Khi bài thi có thể bị can thiệp sau khi thí sinh rời phòng thi, xã hội nhận ra rằng bảo vệ công bằng không chỉ là coi thi nghiêm túc. Các thay đổi lúc này tập trung vào bảo mật dữ liệu, quy trình chấm thi, camera giám sát, niêm phong bài thi và tăng trách nhiệm hình sự.
Có thể thấy mỗi cải cách đều giải quyết đúng lỗ hổng quy chế vừa được phát hiện. Nhưng chính điều đó cũng cho thấy giới hạn của cách tiếp cận hiện nay: hệ thống thường sửa chữa dựa trên hình thức gian lận đã xảy ra, trong khi gian lận luôn có khả năng dịch chuyển sang mắt xích ít được chú ý hơn.
Văn hóa liêm chính
Dù lựa chọn mô hình nào, các thay đổi về kỹ thuật và tổ chức vẫn chỉ giải quyết một phần vấn đề. Bởi một hệ thống khảo thí cuối cùng vẫn được vận hành bởi con người. Ở từng mắt xích của kỳ thi - từ người ra đề, coi thi, chấm thi đến quản lý dữ liệu - vẫn luôn tồn tại những tình huống đòi hỏi sự lựa chọn và trách nhiệm của con người.
Nói cách khác, chống gian lận thi cử không thể dừng lại ở việc hoàn thiện quy trình. Nó cần hướng đến một nền tảng khó xây dựng hơn nhưng bền vững hơn: văn hóa liêm chính trong giáo dục.
Khi nói đến văn hóa liêm chính trong thi cử, người ta thường nghĩ đến ý thức của thí sinh, trách nhiệm của giám thị hoặc đạo đức của những người tham gia kỳ thi. Những yếu tố này rất quan trọng. Tuy nhiên, văn hóa liêm chính không thể được xây dựng như lời nhắc nhở đạo đức hay khẩu hiệu trung thực, mà cần tạo ra một hệ thống trong đó người trung thực không bị thiệt thòi và người bảo vệ sự công bằng được khuyến khích.
Ở tầng sâu hơn, xây dựng văn hóa liêm chính đòi hỏi sự trân trọng tri thức thực học và kỹ năng thực nghiệp hơn là thành tích điểm số. Nhìn lại cách xã hội sử dụng điểm số như thước đo duy nhất phản ánh chất lượng giáo dục, khi kết quả thi trở thành chỉ báo quá quan trọng để đánh giá học sinh, giáo viên, nhà trường hay địa phương, sức ép tạo ra thành tích bằng cách này hay cách khác sẽ còn tồn tại.