Trong bài viết năm 1974, và sau đó được tiếp tục phát triển trong nghiên cứu năm 1995, Richard Easterlin chỉ ra một điều đáng ngạc nhiên: tại Mỹ, trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ 2, 1946-1991, GDP bình quân đầu người tăng mạnh, nhưng tỷ lệ người tự nhận mình "rất hạnh phúc" lại không tăng tương ứng. Tại châu Âu, dữ liệu Eurobarometer giai đoạn 1973-2001 cho thấy tỷ lệ người dân "rất hài lòng" trong cuộc sống hầu như không có xu hướng gia tăng đáng kể, trong khi GDP bình quân đầu người đã tăng từ 25% đến 50% ở nhiều quốc gia, trong đó có Đức, Pháp, Bỉ, Đan Mạch, Iceland, Ý, Vương quốc Anh và Hà Lan.
Quan sát này được gọi dưới tên "nghịch lý Easterlin". Nó cũng đặt ra một câu hỏi tưởng như đơn giản: nếu những người có thu nhập cao hơn thường hài lòng với cuộc sống hơn, tại sao khi cả xã hội trở nên giàu có hơn, mức độ hạnh phúc lại không nhất thiết tăng lên tương ứng?
Hạnh phúc không chỉ là kết quả của phát triển mà còn có thể là một trong những thước đo cho chất lượng của chính sự tăng trưởng. Ảnh minh họa: Pexels
"Con người kinh tế" không sống tách biệt
Một phần câu trả lời nằm trong sự so sánh và cạnh tranh vị trí xã hội.
Theo giả định về Homo economicus (con người kinh tế), cá nhân thường được hình dung như một người ra quyết định duy lý, lựa chọn cách sử dụng thu nhập và nguồn lực của mình để tối đa hóa mức độ hài lòng/lợi ích, hay còn gọi là độ hữu dụng (utility). Thu nhập và tiêu dùng của bản thân vì thế giữ một vị trí trung tâm.
Nhưng Homo economicus không sống trong một thế giới chỉ có "tôi". Chúng ta nhìn những người xung quanh, biết hàng xóm kiếm được bao nhiêu, đồng nghiệp sống trong căn nhà nào, bạn bè đi chiếc xe gì. Những quan sát đó cũng góp phần hình thành kỳ vọng của chúng ta về một cuộc sống tốt đẹp "lý tưởng".
Đây là một trong những lý do khiến so sánh xã hội trở thành một câu chuyện quan trọng trong kinh tế học hạnh phúc. Con người không đánh giá cuộc sống của mình hoàn toàn độc lập với môi trường xã hội mà họ đang sống.
So sánh với người khác chưa phải là lời giải thích duy nhất. Homo economicus còn thích nghi rất nhanh với những gì mình đang có. Trong kinh tế học và tâm lý học, hiện tượng này được gọi là sự thích nghi với khoái lạc. Một khoản tăng lương, một căn nhà mới, một chiếc xe mới có thể khiến chúng ta vui trong những ngày đầu. Nhưng rồi, sau một thời gian, tất cả trở thành bình thường. Đi cùng với sự thích nghi là sự thay đổi của kỳ vọng. Điều hôm qua còn là một mong ước có thể trở thành nhu cầu hôm nay, rồi lại trở nên chưa đủ vào ngày mai. Mức sống mới dần trở thành tiêu chuẩn mới để đánh giá cuộc sống. Có lẽ vì thế mà câu nói "càng có nhiều càng muốn nhiều hơn" không chỉ là một nhận xét về tâm lý con người. Nó còn giúp giải thích tại sao một xã hội có thể giàu có hơn rất nhiều mà mức độ hài lòng với cuộc sống không nhất thiết tăng tương ứng.
So sánh xã hội còn dẫn chúng ta tới một khái niệm khác: hàng hóa mang tính vị thế. Có những thứ chúng ta tiêu dùng không chỉ vì giá trị sử dụng nội tại của chúng, mà còn vì vị trí mà chúng đem lại trong mắt người khác.
Thorstein Veblen đã sớm nhận ra điều này khi nói về tiêu dùng phô trương vào cuối thế kỷ 19. Duesenberry sau đó nhấn mạnh hơn đến việc một người mua hàng xa xỉ để thể hiện địa vị có thể góp phần tạo ra áp lực tiêu dùng và so sánh xã hội đối với những người xung quanh. Khi đó, cạnh tranh về vị thế có thể tạo ra một tác động ngoại vi tiêu cực: điều có lợi cho một cá nhân lại có thể làm giảm cảm nhận về vị trí của những người khác.
Có thể hình dung bằng một ví dụ đơn giản. Trong một khán phòng, người nọ đứng lên để nhìn rõ hơn. Những người phía sau cũng đứng lên, rồi cuối cùng, cả khán phòng đều đứng. Không ai nhìn rõ hơn so với lúc đầu, nhưng tất cả đều mỏi chân. Đó là trực giác giải thích ảnh hưởng của ngoại vi tiêu cực lên hữu dụng của mỗi cá nhân. Mỗi cá nhân đều có lý do để tiếp tục cuộc đua, nhưng kết quả của cuộc đua không nhất thiết làm cả xã hội tốt hơn. Từ góc nhìn của từng cá nhân, lựa chọn của họ có thể hoàn toàn hợp lý và tối ưu độ hữu dụng của họ. Vấn đề chỉ xuất hiện khi những lựa chọn hợp lý của từng người cộng lại tạo ra một kết quả không còn tối ưu cho tất cả.
Sẽ là quá đơn giản nếu coi mọi sự so sánh xã hội đều tiêu cực. Trong một mô hình tăng trưởng nội sinh, động cơ "theo kịp người khác" có thể thúc đẩy tiết kiệm và đầu tư, từ đó góp phần vào tăng trưởng dài hạn.
Nhưng chính điều này cũng có thể giúp giải thích vì sao tăng trưởng kinh tế và hạnh phúc chủ quan đôi khi không đi cùng nhau. Một nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh hơn vì người dân cạnh tranh mạnh hơn về địa vị, tích lũy nhiều hơn và đầu tư nhiều hơn. Nhưng nếu chính cuộc cạnh tranh ấy làm giảm an lành của các cá nhân, xã hội có thể rơi vào một tình trạng là mọi người cùng nỗ lực để có nhiều hơn, nhưng không nhất thiết cùng cảm thấy tốt hơn và phúc lợi xã hội có thể thấp hơn.
Hạnh phúc chủ quan: một hiện tượng đa chiều
Cần nói rõ rằng "nghịch lý Easterlin" không có nghĩa là thu nhập không quan trọng. Trong cùng một xã hội và tại một thời điểm nhất định, những người có thu nhập cao hơn thường đánh giá cuộc sống của mình tích cực hơn những người có thu nhập thấp hơn. Hơn nữa, xem xét sự thay đổi của GDP bình quân đầu người và mức độ trung bình của hạnh phúc chủ quan theo thời gian, dữ liệu vẫn cho thấy mối quan hệ tích cực giữa hai yếu tố.
Nghịch lý Easterlin minh chứng cho trực giác quen thuộc: thu nhập không phải là yếu tố duy nhất quyết định cách con người đánh giá cuộc sống của mình.
Một người có thể thu nhập rất cao nhưng đổi lại là những ngày làm việc kéo dài, không khí ô nhiễm, ít thời gian cho gia đình và sự gắn kết cộng đồng. Một người khác có thể thu nhập thấp hơn nhưng được sống trong môi trường trong lành, có thời gian nghỉ ngơi, có gia đình, bạn bè và một cộng đồng đáng tin cậy. Hai người ấy có thể có hai trải nghiệm hoàn toàn khác nhau về cuộc sống.
Hạnh phúc chủ quan ngày càng được nhìn nhận đa chiều, trong đó thu nhập chỉ là một thành phần, bên cạnh vị trí xã hội, sức khỏe, việc làm và điều kiện lao động... Ảnh minh họa: Nguyễn Quốc Sơn
Vì thế, hạnh phúc chủ quan ngày càng được nhìn nhận như một hiện tượng đa chiều. Thu nhập chỉ là một thành phần, bên cạnh vị trí xã hội, sức khỏe, việc làm và điều kiện lao động, môi trường sống, các mối quan hệ xã hội, vốn xã hội, dịch vụ công, an ninh, và không kém phần quan trọng, cảm giác về ý nghĩa của những việc mình làm. Về điểm này, một số nghiên cứu cho thấy bản chất của động lực cũng có mối liên hệ rõ rệt với hạnh phúc chủ quan. Khi con người hành động vì những giá trị nội tại mà bản thân thực sự tin tưởng, họ có xu hướng cảm thấy hài lòng hơn so với khi hành động chủ yếu vì những động lực bên ngoài như phần thưởng vật chất.
Nhìn xa hơn sản xuất và tiêu dùng
Vậy GDP có còn quan trọng không? Câu trả lời là có. Và đây là điểm cần được nhấn mạnh. Đối với tất cả các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển, tăng trưởng kinh tế vẫn là điều kiện thiết yếu. Thu nhập cao hơn đồng nghĩa với khả năng tiếp cận tốt hơn với giáo dục, y tế, nhà ở, và nhiều nhu cầu cơ bản của cuộc sống.
Tuy nhiên, GDP chỉ cho biết nền kinh tế tạo ra bao nhiêu giá trị mà không cho biết đầy đủ những giá trị ấy được chuyển hóa thành chất lượng cuộc sống ra sao.
Đó chính là lý do thảo luận về "Vượt lên GDP" ("Beyond GDP") ngày càng trở nên quan trọng: nếu mục tiêu cuối cùng của phát triển là cải thiện cuộc sống con người, chúng ta cần những thước đo phản ánh nhiều hơn là sản lượng kinh tế. Nói cách khác, nếu hạnh phúc chủ quan là một khái niệm đa chiều, thì chính sách công cũng không thể chỉ được đánh giá bằng một thước đo duy nhất.
Điều quan trọng là cách tiếp cận đặt hạnh phúc chủ quan như một mục tiêu của chính sách công không nhất thiết đối lập với tăng trưởng kinh tế. Trong nhiều trường hợp, chúng có thể chính là những điều kiện giúp tăng trưởng trở nên bền vững hơn.
Một chính sách môi trường tốt, chẳng hạn, không chỉ giúp giảm ô nhiễm. Nó còn có thể cải thiện chất lượng cuộc sống, sức khỏe cộng đồng và, về lâu dài, cả năng suất lao động. Một công viên công cộng có thể không trực tiếp tạo ra nhiều GDP, nhưng lại mang đến một không gian để con người đi bộ, gặp gỡ và kết nối. Những lợi ích ấy khó được phản ánh đầy đủ trong các chỉ tiêu kinh tế truyền thống, nhưng lại có ý nghĩa đối với sức khỏe thể chất, tinh thần và hạnh phúc chủ quan. Tương tự, một chính sách giúp cân bằng tốt hơn giữa thời gian làm việc và nghỉ ngơi có thể không làm GDP tăng ngay lập tức. Nhưng thêm thời gian dành cho gia đình, bạn bè và các hoạt động xã hội cũng có thể cải thiện sức khỏe, sự hài lòng với cuộc sống và, về lâu dài, điều đó cũng có thể tạo ra những tác động tích cực đối với năng suất lao động.
Cách nhìn rộng hơn về tiến bộ xã hội nêu trên làm nổi bật vai trò của chính sách công trong việc khuyến khích và ghi nhận những hành vi tạo ra lợi ích cho người khác nhưng không phải lúc nào cũng được thị trường tưởng thưởng đầy đủ. Bảo vệ môi trường, giáo dục, giao thông, chăm sóc cộng đồng hay đổi mới sáng tạo là những ví dụ điển hình. Những hoạt động này tạo ra tác động ngoại vi tích cực cho xã hội, song mức thù lao theo giá trị thị trường thường thấp hơn giá trị thực mà chúng mang lại. Chính sách công, vì thế, có vai trò bù đắp khoảng cách ấy, thông qua trợ cấp, ghi nhận xã hội, hay tạo lập khung thể chế phù hợp, v.v.
Nghịch lý Easterlin, cuối cùng, có thể được xem như là một lời nhắc nhở: tăng trưởng kinh tế tạo ra của cải và mở rộng những lựa chọn của con người. Nhưng nếu mục tiêu cuối cùng của phát triển là một cuộc sống an lành, thì chúng ta cần nhìn xa hơn những gì được sản xuất và tiêu dùng. Hạnh phúc chủ quan, theo nghĩa đó, không chỉ là kết quả của phát triển mà còn có thể là một trong những thước đo cho chất lượng của chính sự tăng trưởng. Câu hỏi quan trọng, vì thế, không chỉ là xã hội giàu lên bao nhiêu, mà còn là chúng ta cảm nhận an lành như thế nào trong một xã hội ngày càng giàu có ấy.
[1] Clark, A. E., Frijters, P. & Shields, M. A. (2008). Relative Income, Happiness, and Utility, Journal of Economic Literature, 46(1), pp. 95-144.
[2] Deci, E. L. & Ryan, R. M. (1985), Conceptualizations of intrinsic motivation and self-determination, in "Intrinsic Motivation and Self-Determination in Human Behavior" pp. 11-40, Springer, New York, NY.
[3] Dillenseger, L., Nguyễn-Thị, H. N., Phạm, T. K. C. & Stenger, A. (2026). "Intrinsic and Extrinsic Motivations and Subjective Well-Being: The Case of French Organic Farmers", manuscrit under revision at the Journal of Happiness Studies.
[4] Duesenberry, J. (1949). Income, Saving and the Theory of Consumer Behavior. Harvard University Press.
[5] Easterlin, R. A. (1995), Will Raising the Income of All Increase the Happiness of All, Journal of Economic Behavior and Organization, 27, pp. 35-47.
[6] Pham K.N. (2026), 'Vượt lên GDP', hạnh phúc và chánh niệm, Tia Sáng, 23/7/2026.
[7] Pham T.K.C. (2008), L'hypothèse d'utilité relative dans l'analyse économique: enjeux etconséquences, Revue d'économie politique 118, pp. 541-572.
[8] Phạm, T. K. C., Nguyễn-Văn, P., Nguyễn-Hữu, T. T., Trần, T. A. D. & Noukignon, K. (2019). Subjective Well-Being and Social Comparison: A Comparative Study on Rural Thailand and Vietnam, Revue d'Économie Politique, 129 (6), pp. 993-1029.
[9] Pham T.K.C. (2019), Keeping up with or running away from the Joneses: the Barro model revisited, Journal of Economics 126:179–192.
[10] Stiglitz, J., Sen, A. & Fitoussi, J.-P. (2009). Report by the Commission on the Measurement of Economic Performance and Social Progress.
[11] United Nations (2026), Beyond GDP : A New Compass of Progress for People and Planet
[12] Veblen, T. (1899). The Theory of the Leisure Class: An Economic Study of Institutions (New York: B. W. Huebsch, 1918).