Vincent van Gogh từng dùng dao cắt tai mình trong một cơn loạn thần. Vũ công ba lê Vaslav Nijinsky mắc tâm thần phân liệt và sống trong bệnh viện 30 năm cuối đời. Virginia Woolf sống chung với rối loạn lưỡng cực và cuối cùng đã tự kết liễu cuộc đời trong một đợt trầm cảm nặng.
Chân dung tự họa của Vincent van Gogh với chiếc mũ màu xám, Mùa đông 1887–88.
Nhiều nghệ sĩ sáng tạo nổi tiếng từng sống chung với các rối loạn tâm thần nghiêm trọng. Catherine Zeta-Jones, Mariah Carey, Demi Lovato, Jean-Claude Van Damme và Mel Gibson đều cho biết họ được chẩn đoán mắc rối loạn lưỡng cực. Yayoi Kusama, Sylvia Plath, Kurt Cobain và Syd Barrett cũng từng nói về những trải nghiệm loạn thần. Chưa hết, cũng có nhiều đồn đoán rằng Amy Winehouse, Marilyn Monroe và Ernest Hemingway có thể cũng mắc rối loạn nhân cách ranh giới.
Khái niệm "thiên tài sáng tạo điên loạn" có nguồn gốc từ thời cổ đại. Trong thời kỳ Phục Hưng và Lãng mạn, các nghệ sĩ đôi khi cố tình xây dựng hình ảnh lập dị để khẳng định mình là những cá nhân phi thường, như thể đã ký những giao kèo với quỷ dữ để đổi lấy tài năng.
Họa sĩ Na Uy Edvard Munch từng mô tả những "đau khổ" của mình là "một phần của bản thân tôi và nghệ thuật của tôi... nếu phá hủy chúng thì cũng sẽ phá hủy nghệ thuật của tôi". Nhà thơ Edith Sitwell - người từng trải qua trầm cảm - được cho là đã từng nằm trong một chiếc quan tài mở để tìm cảm hứng cho thơ ca của mình.
Năm 1995, một nghiên cứu phân tích 1.005 tiểu sử được viết trong giai đoạn 1960-1990 thậm chí còn đưa ra giả thuyết rằng những người làm nghề sáng tạo có tỷ lệ mắc các rối loạn tâm thần nghiêm trọng cao hơn so với dân số nói chung.
Vậy có thể lý giải về điều này như thế nào, khi nghệ thuật vốn được chứng minh là có lợi cho sức khỏe tinh thần của chúng ta? Trong cuốn sách mới "Art Cure: The Science of How the Arts Transform Our Health", GS.TS Daisy Fancourt (Đại học Cao đẳng London, Anh) cũng đã trình bày rất nhiều bằng chứng khoa học về những lợi ích này.
Tuy nhiên, thực tế đối với các nghệ sĩ chuyên nghiệp có thể hơi khác. Mặc dù họ thường báo cáo mức độ hạnh phúc tổng thể cao hơn, cuộc sống của một nghệ sĩ vẫn có thể có đầy rẫy thách thức về mặt tâm lý. Họ phải đối mặt với đủ thứ, từ sự bấp bênh trong sự nghiệp cho đến cạnh tranh nghề nghiệp.
Ngoài ra, sự nổi tiếng còn kéo theo nhiều áp lực, lối sống nhiều rủi ro, nguy cơ lạm dụng chất gây nghiện cao hơn, và việc quá tập trung vào bản thân - điều gần như khó tránh nhưng không tốt cho sức khỏe tinh thần. Trong một nghiên cứu năm 1997, các nhà khoa học đã phân tích số lần sử dụng đại từ ngôi thứ nhất - I, me, my, mine và myself - trong các ca khúc của Kurt Cobain và Cole Porter (bản thân Porter cũng từng trải qua những giai đoạn trầm cảm nặng). Kết quả thống kê của nghiên cứu cho thấy, khi mức độ nổi tiếng tăng lên, cả hai nghệ sĩ này đều sử dụng các đại từ ngôi thứ nhất nhiều hơn.
Liên hệ giữa sáng tạo nghệ thuật và rối loạn tâm thần nghiêm trọng
Nhưng còn những nghệ sĩ mắc rối loạn tâm thần trước khi trở nên nổi tiếng, hoặc thậm chí trước khi trở thành nghệ sĩ thì sao? Các nghiên cứu di truyền học đã phát hiện một số gene chung có thể là nguyên nhân dẫn đến cả rối loạn tâm thần nghiêm trọng và khả năng sáng tạo.
Cụ thể, một biến thể của gene NRG1 được cho là vừa làm tăng nguy cơ loạn thần, vừa liên quan đến khả năng tư duy sáng tạo cao hơn. Ngoài ra, các biến thể của gene thụ thể dopamine cũng được cho là có liên hệ với cả loạn thần lẫn những quá trình sáng tạo như tìm kiếm cái mới. Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu không hoàn toàn thống nhất, và không phải nghiên cứu nào cũng tìm thấy mối liên hệ này.
Tác phẩm "Tiếng thét" của Edvard Munch, sáng tác năm 1893.
Ngoài yếu tố di truyền, các nghiên cứu trước còn chỉ ra rằng có một số đặc điểm tính cách có thể phổ biến ở cả người gặp vấn đề sức khỏe tâm thần và người sáng tạo, bao gồm sự cởi mở với trải nghiệm, xu hướng tìm kiếm điều mới lạ và mức độ nhạy cảm cao. Những nghiên cứu này giúp chúng ta có thêm góc nhìn để hiểu hơn về các nghệ sĩ như Van Gogh, Nijinsky hay Virginia Woolf.
Tuy vậy, sáng tạo và vấn đề sức khỏe tâm thần cũng có thể cản trở lẫn nhau. Chẳng hạn, Woolf từng mô tả các giai đoạn trầm cảm của rối loạn lưỡng cực giống như việc bà đang ở trong một cái giếng sâu: "Ở dưới đó, tôi không thể viết cũng không thể đọc". Vì thế, dù một số người mắc rối loạn tâm thần nghiêm trọng có thể sáng tác nghệ thuật, nhưng không phải ai cũng có thể làm điều đó mọi lúc.
Hơn nữa, khi tìm kiếm bằng chứng về mối liên hệ giữa rối loạn tâm thần nghiêm trọng và các hoạt động sáng tạo ở quy mô dân số, kết quả không thực sự rõ ràng.
Năm 2013, một nghiên cứu tại Thụy Điển đã theo dõi hơn 40 năm dữ liệu của 1,2 triệu người trong các cơ sở dữ liệu bệnh nhân quốc gia, bao gồm hồ sơ chẩn đoán, điều trị sức khỏe tâm thần và nguyên nhân tử vong.
Các nhà nghiên cứu phát hiện rằng những người mắc tâm thần phân liệt, rối loạn phân liệt cảm xúc, rối loạn lo âu và trầm cảm đơn cực thực tế lại ít có khả năng làm việc trong các ngành nghề sáng tạo hơn so với mức trung bình của dân số. Ngoại lệ duy nhất - và cũng khá nhỏ - là chứng rối loạn lưỡng cực, khi kết quả cho thấy người mắc bệnh này có khả năng làm nghề sáng tạo cao hơn khoảng 8%.
Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng phát hiện một điều có lẽ còn thú vị hơn: cha mẹ và anh chị em của những người mắc tâm thần phân liệt, rối loạn phân liệt cảm xúc và rối loạn lưỡng cực lại có khả năng làm nghề sáng tạo cao hơn. Không khó để tìm ví dụ trong giới nghệ sĩ nổi tiếng: con gái của James Joyce và người anh cùng cha khác mẹ của David Bowie đều mắc tâm thần phân liệt. Vậy lý do nào dẫn đến hiện tượng này?
Theo các nhà nghiên cứu, những người mang yếu tố di truyền dễ mắc rối loạn tâm thần nặng nhưng không phát bệnh đầy đủ có thể chỉ gặp các biểu hiện nhẹ hơn. Chẳng hạn, chứng hưng cảm nhẹ (hypomania) khiến tâm trạng phấn chấn hơn bình thường nhưng không dữ dội như rối loạn lưỡng cực. Hay, người mắc chứng rối loạn nhân cách phân liệt (schizotypy) cũng có tư duy khác biệt và cảm xúc mạnh hơn, nhưng không nghiêm trọng như tâm thần phân liệt.
Những trạng thái này thường được cho là có liên quan đến các quá trình sáng tạo, như bớt tự kiềm chế, khả năng tập trung không quá chặt chẽ và sự "kết nối mạnh" trong não bộ - tức khả năng tạo ra những liên tưởng chéo giữa các giác quan, chẳng hạn nghe thấy màu sắc hay "nếm" được nốt nhạc.
Có thể chính vì vậy mà anh chị em và cha mẹ của những người mắc rối loạn tâm thần có xu hướng dễ mắc những trạng thái dạng nhẹ này hơn, và điều đó lý giải vì sao họ thường lựa chọn các nghề nghiệp sáng tạo. Tuy nhiên, không phải tất cả những người sáng tạo đều làm việc trong các ngành nghề sáng tạo. Với nhiều người, các hoạt động sáng tạo chỉ là sở thích giúp họ giải tỏa căng thẳng sau giờ làm việc.
Tóm lại, khoa học cho thấy có thể tồn tại một số mối liên hệ chung giữa rối loạn tâm thần nghiêm trọng và các quá trình sáng tạo như nghệ thuật. Tuy nhiên, mối liên hệ này không rõ ràng và trực tiếp như những giai thoại mà chúng ta vẫn tin vào. Hình tượng về "thiên tài sáng tạo điên loạn" là một cách nhìn quá đơn giản, thậm chí còn có nguy cơ duy trì định kiến hơn là giúp chúng ta hiểu đúng vấn đề. Vì vậy có lẽ đã đến lúc nên khép lại quan niệm này.
Thay vào đó, có lẽ sẽ thiết thực hơn nếu chúng ta tập trung vào việc các hoạt động sáng tạo có thể giúp cải thiện và hỗ trợ sức khỏe tinh thần như thế nào. Mỗi tuần, lại có thêm nhiều nghiên cứu mới chỉ ra những lợi ích cụ thể và ý nghĩa mà nghệ thuật có thể đem lại cho con người, bất kể người đó mắc rối loạn tâm thần hay chỉ đang đối mặt với những cảm xúc và tâm trạng thường nhật. Những nghiên cứu này cho thấy, các nghệ sĩ, chuyên gia y tế và cộng đồng có thể cùng phối hợp với nhau để tạo ra những không gian nghệ thuật an toàn, dễ tiếp cận và mang tính bao trùm cho tất cả mọi người.
Mỹ Hạnh dịch
---
Nguồn tham khảo:
Daisy Fancourt, Why the mad artistic genius trope doesn’t stand up to scientific scrutiny, The Conversation. https://theconversation.com/why-the-mad-artistic-genius-trope-doesnt-stand-up-to-scientific-scrutiny-272841