Tối thứ tư ngày 5 tháng 8, một kỷ lục livestream trên mạng xã hội được thiết lập. Trên các diễn đàn, từ chiều người ta rủ nhau hủy hẹn buổi tối để ở nhà chờ xem, gọi sẵn ly nước, canh đúng giờ. Khi bà Nguyễn Phương Hằng xuất hiện, lượt xem vượt mốc một triệu chỉ sau ít phút và đến khi bị nền tảng khóa phiên phát live là khoảng 2 triệu. Kèm theo đó là mật độ dày đặc những bài đăng vây quanh với những lời hẹn, lời bàn, đoạn cắt, tường thuật, suốt từ chiều hôm trước đến sáng hôm sau.
Hơn 5 năm trước, tối 25 tháng 5 năm 2021, cũng một buổi hẹn như thế đã lập kỷ lục tại thời điểm đó chưa nghệ sĩ hay người sáng tạo nội dung nào ở Việt Nam từng chạm đến: gần nửa triệu người xem cùng lúc trên các kênh của bà này.
Giữa hai buổi tối cách nhau năm năm ấy là một bản án. Bà Hằng từng đi tù về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, phát trực tiếp chứa thông tin giả, nội dung bịa đặt, xúc phạm nghiêm trọng danh dự của mười cá nhân.
Người phát sóng đã đi qua trại giam rồi trở lại chiếc ghế phát sóng, còn đám đông thì vẫn ở đó, hóng chờ. Bài viết này không nhằm phán xét thêm về một cá nhân đã được pháp luật phán quyết, mà muốn nhìn vào phía bên kia màn hình: hàng trăm nghìn người đã chờ đợi, đã tôn xưng, đã bênh vực đến cùng, và tối qua vẫn ngồi đó. Vì sao ngần ấy người muốn nghe đến vậy.
Người xem được hé một chút thông tin, háo hức kỳ vọng về những bí mật phía sau sẽ được hé lộ tiếp. Ảnh minh họa được thiết kế với sự hỗ trợ của AI
Khung giờ vàng
Truyền hình thế kỷ XX từng tạo ra khái niệm khung giờ vàng: cả gia đình quây quanh chiếc máy thu hình vào một giờ cố định, xem chung một chương trình, bàn chung một câu chuyện. Mạng xã hội tưởng như đã xé vụn thói quen ấy thành hàng tỷ dòng nội dung cá nhân hóa. Vậy mà hiện tượng Nguyễn Phương Hằng lại tái dựng khung giờ vàng, chỉ thay chất liệu. Các buổi phát sóng được hẹn trước ngày giờ, có lời nhá hàng, có danh sách nhân vật sẽ bị gọi tên từ trước nhiều ngày, người xem hẹn nhau, chờ sẵn, đếm ngược. Cơn giận vốn dĩ là thứ cảm xúc bùng phát và khó đoán giờ được đưa vào lịch.
Người xem được hé một chút thông tin, háo hức kỳ vọng về những bí mật phía sau sẽ được hé lộ tiếp. Chính sự không chắc chắn khiến người ta không muốn bỏ một buổi nào. Các trò chơi may rủi và những cuốn phim nhiều kỳ vận hành trên cùng một nguyên lý. Điểm khác biệt nằm ở chỗ phần thưởng nơi đây không phải tiền bạc hay cốt truyện, mà là cảm giác dự khán một "màn công lý" sắp được thực thi ngay trên sóng.
Đồng cảm giận dữ
Trong một tiểu luận trên tạp chí Nature Human Behaviour, nhà tâm lý học Molly Crockett chỉ ra rằng môi trường số đã thay đổi cấu trúc chi phí và lợi ích của sự phẫn nộ đạo đức. Ngoài đời thực, bày tỏ phẫn nộ với kẻ bị coi là sai trái là một việc tốn kém vì phải đối mặt, phải chịu rủi ro bị trả đũa, phải bỏ thời gian và danh dự của chính mình ra đặt cược. Trên mạng, chi phí ấy gần bằng không, trong khi phần thưởng, gồm sự tán thưởng tức thời của đám đông cùng phe và cảm giác mình đang đứng về lẽ phải, lại được "chi trả" ngay lập tức.
Một nghiên cứu trên hơn nửa triệu thông điệp mạng xã hội của nhóm William Brady còn định lượng được sức lan tỏa của thứ cảm xúc này: mỗi từ ngữ vừa mang tính đạo đức vừa mang tính cảm xúc xuất hiện trong một thông điệp làm tăng khoảng hai mươi phần trăm khả năng thông điệp ấy được chia sẻ tiếp. Sự phẫn nộ, nói cách khác, là loại nội dung được các nền tảng số "trợ giá" cho lây lan nhanh hơn.
Nhưng cơ chế phần thưởng chưa đủ giải thích quy mô của hiện tượng. Cơn phẫn nộ muốn lớn được cần bám vào nỗi nghi ngờ có thật. Năm 2021, công chúng đang treo lơ lửng một câu hỏi về sự minh bạch của hoạt động từ thiện do người nổi tiếng đứng ra kêu gọi sau đợt lũ miền Trung năm 2020. Khung pháp lý khi ấy chưa theo kịp thực tế các cá nhân kêu gọi quyên góp gần như chỉ vận hành trên niềm tin, chưa có quy định ràng buộc về công khai tài khoản, thời hạn giải ngân hay nghĩa vụ báo cáo. Phải đến cuối năm 2021 mới có nghị định thay thế nhằm ràng buộc trách nhiệm minh bạch của cá nhân làm từ thiện. Trong lúc còn đầy nghi ngờ thắc mắc về hoạt động từ thiện, những người tìm đến nghe bà Hằng có lẽ vì muốn tìm tiếng nói "đồng cảm giận dữ", củng cố cho những nghi ngờ của mình.
Người quen chưa từng gặp
Năm 1956, hai nhà nghiên cứu Donald Horton và Richard Wohl đặt tên cho một hiện tượng mới của thời truyền hình: quan hệ cận xã hội, tức thứ tình thân một chiều mà khán giả dành cho gương mặt trên màn ảnh, người mà họ chưa từng gặp nhưng cảm thấy quen thuộc như người nhà.
Phát trực tiếp là dạng thúc đẩy quan hệ ấy khi không kịch bản, không biên tập, kéo dài hàng giờ, người nói nhìn thẳng vào ống kính như nhìn vào mắt từng người, đọc bình luận, trả lời, xưng hô thân mật. Mỗi buổi phát sóng giống một cuộc ngồi chơi "buôn dưa lê" ngay trong phòng khách của khán giả. Cái cách người ta gọi bà bằng cô, xưng con, hẹn nhau như hẹn về một bữa cơm gia đình vào tối qua, chính là ngôn ngữ của thứ tình thân.
Nhân vật Nguyễn Phương Hằng lại hội tụ những chất liệu hiếm có cho một quan hệ như vậy. Sự giàu có kiểu "vai mang túi bạc kè kè" được phô bày công khai trở thành sức hút kỳ lạ. Giọng điệu suồng sã, lối kể lể đời tư, những phút nói hớ rồi tự cười mình, tất cả cộng lại thành cảm giác thật, thứ cảm giác mà công chúng luôn quan tâm.
Trớ trêu nằm ở chỗ tòa án về sau kết luận nhiều nội dung trong chính những buổi phát sóng ấy là bịa đặt. Cảm giác thật và sự thật hóa ra là hai thứ có thể tách rời nhau hoàn toàn.
Những nội dung gieo vào đám đông sự tò mò và chia rẽ ngày càng được khuếch đại trên các mạng xã hội. Ảnh: Kim Dung
Trong tâm lý đám đông, để đông đảo người nghe cùng hướng về một phía, còn một thứ gắn kết nữa là "căn cước nhóm". Những đám đông ngồi quanh các buổi phát sóng tự định nghĩa mình là phe của lẽ phải. Khi đã coi mình thuộc về một phe, người ta cũng bắt đầu nhìn mọi thông tin qua lăng kính của phe ấy.
Đó là lý do bản án dành cho người phát sóng mấy năm trước ấy không làm cộng đồng tan rã mà vẫn làm hiện tượng này kéo dài lâu hơn nhiều cơn sốt trên mạng. Phần lớn những làn sóng phẫn nộ trên mạng bùng lên rất nhanh rồi lắng xuống khi sự chú ý chuyển sang chủ đề khác. Nhưng ở đây, cơn phẫn nộ được nuôi dưỡng bởi đám đông đã hình thành, có nhân vật trung tâm và có những buổi phát sóng định kỳ để mọi người quay lại. Mỗi lần lên sóng giống như một lần "tiếp nhiên liệu", khiến câu chuyện chưa kịp nguội lại được hâm nóng thêm một lần nữa.
Thách thức trên môi trường số
Từ cuối tháng 5 năm 2026, những phát ngôn hoài nghi về tính minh bạch của một số cửa hàng kim cương trong các phiên phát sóng của bà Hằng đã khiến nhiều người đi kiểm định hoặc bán tháo, có thương hiệu trang sức lớn tạm dừng hoạt động, trong khi cơ quan chức năng triệt phá một đường dây buôn lậu hàng chục nghìn viên kim cương.
Lần này, mối hoài nghi trên sóng trùng khớp một phần với một sai phạm có thật, và về mặt tâm lý học, đó chính là liều thuốc củng cố mạnh nhất: sự ứng nghiệm ngắt quãng. Người chơi trò may rủi không cần thắng mọi ván để tiếp tục đặt cược, họ chỉ cần thắng một ván đủ lớn để tin rằng cỗ máy đứng về phía mình. Với không ít người, một lần "thần tượng" nói đúng đủ sức bảo lãnh, trở thành căn cứ thay cho vô vàn những lần khác.
Những phiên livestream đó vô hình trung nằm ở giữa giao điểm của ba đường: nền tảng số dùng thuật toán "trợ giá" cho sự phẫn nộ, tâm lý đám đông tò mò trước những mẩu thông tin có một vài sự thật được gia giảm bóp méo, và những câu hỏi còn để ngỏ, những nghi ngờ, dặm thêm một ít "phụ gia" tò mò. Chừng nào những đường ấy còn giao nhau, những người nghe sẽ còn tiếp tục ngóng chờ.
Hiện tượng Nguyễn Phương Hằng cho thấy thách thức không nhỏ của xã hội đương đại trong việc làm sao để "tăng sức đề kháng" chống tin giả trên môi trường số. Trên nền tảng số, những nội dung khơi gợi cảm xúc mạnh, đặc biệt là gây tranh cãi và phẫn nộ, nếu thiếu sự kiểm soát phù hợp sẽ dễ dàng, nhanh chóng khuếch đại, chiếm ưu thế trong việc giành sự chú ý của công chúng.
---
Tài liệu trích dẫn trong bài:
1. M. J. Crockett, "Moral outrage in the digital age", Nature Human Behaviour, số 1, 2017, tr. 769-771.
2. W. J. Brady và cộng sự, "Emotion shapes the diffusion of moralized content in social networks", Proceedings of the National Academy of Sciences, tập 114, số 28, 2017.
3. D. Horton và R. R. Wohl, "Mass Communication and Para-social Interaction: Observations on Intimacy at a Distance", Psychiatry, tập 19, số 3, 1956.