Hằng năm, vào khoảng tháng Chín hoặc tháng Mười, danh sách các nhà khoa học ảnh hưởng nhất thế giới theo chỉ số trích dẫn lại được công bố. Danh sách này do Đại học Stanford phối hợp với nhà xuất bản Elsevier xây dựng dựa trên số bài báo khoa học thuộc cơ sở dữ liệu Scopus được trích dẫn nhiều nhất, do đó còn được gọi là Elsevier-Stanford Ranking (Danh sách Stanford) hay Stanford/Elsevier Top 2% Scientists List (Top 2% Nhà khoa học của Stanford/Elsevier).
Năm nay, danh sách được công bố trên Elsevier Data Repository vào ngày 19/9. Đây là lần cập nhật thứ tám liên tiếp kể từ khi danh sách ra mắt vào ngày 6/7/2019 [1,2].
Mặc dù truyền thông đã đưa tin nhiều về sự hiện diện của các nhà khoa học và học giả Việt Nam trong Danh sách Stanford, song các thông tin này còn đơn điệu và chủ yếu dựa trên xếp hạng tổng thể theo ngành, dẫn đến thiên lệch. Bởi phương pháp đo lường của Danh sách - dù được thiết kế nhằm bao quát toàn diện - vẫn phụ thuộc nhiều vào các chỉ số vốn dĩ ưu tiên khối Khoa học tự nhiên và Kinh tế học. Các ngành này thường có số lượng lớn các bài báo được trích dẫn nhanh chóng; trong khi KHXH&NV lại dựa nhiều hơn vào các hình thức xuất bản đa dạng như sách và chuyên khảo, với chu kỳ trích dẫn chậm hơn và kéo dài trong nhiều năm. Chính vì vậy, nhân dịp Danh sách Stanford được cập nhật lần thứ tám, bài phân tích này muốn đánh giá sự hiện diện của các nhà nghiên cứu KHXH&NV Việt Nam trong giai đoạn 2019-2025.
Danh sách Stanford chia tạp chí và bài báo khoa học thành 22 lĩnh vực và 176 chuyên ngành. Trong cơ sở dữ liệu, Kinh tế và Kinh doanh được tách biệt với KHXH&NV.
Từ hai cơ sở dữ liệu riêng biệt - một dựa trên mức độ ảnh hưởng của nhà khoa học trong suốt sự nghiệp (Career-long) và một dựa trên tác động trong năm gần nhất (Recent single-year) - Danh sách Stanford vừa ghi nhận những học giả đã có ảnh hưởng lâu dài, vừa xác định được các nhà nghiên cứu mới nổi.
Danh sách Career-long năm 2025 ghi nhận 230.272 nhà khoa học nằm trong top 2%, còn danh sách Recent single-year ghi nhận 236.276 nhà khoa học [1]. Trong đó, số học giả thuộc KHXH&NV chiếm 8.491 người (3,69%) trong danh sách Career-long và 9.344 người (3,96%) trong danh sách Recent single-year. Số học giả Việt Nam được ghi nhận trong hai danh sách lần lượt là một và bốn người. Trong đó, GS. Vương Quân Hoàng - người sáng lập Trung tâm Nghiên cứu xã hội liên ngành ISR thuộc Đại học Phenikaa, góp mặt ở cả hai danh sách. Cụ thể, ông liên tục có mặt trong danh sách Recent single-year từ năm 2020 và danh sách Career-long từ năm 2021 đến nay.
![]() |
GS. Vương Quân Hoàng, người sáng lập Trung tâm Nghiên cứu xã hội liên ngành ISR thuộc Đại học Phenikaa, có tên trong cả hai danh sách Career-long và Recent single-year của Elsevier-Stanford Ranking. Ảnh: ISR |
Con số học giả KHXH&NV Việt Nam trong danh sách Stanford khá khiêm tốn so với các lĩnh vực khác, đặc biệt là Kinh tế và Kinh doanh, hiện đã có ba nhà nghiên cứu trong danh sách Career-long và 23 nhà nghiên cứu trong danh sách Recent single-year.
Và mặc dù học giả KHXH&NV Việt Nam đầu tiên hiện diện từ khá sớm trong danh sách này, song mãi đến năm 2024 mới ghi nhận thêm học giả thứ hai - TS. Nguyễn Minh Hoàng, cũng thuộc Trung tâm ISR. Năm nay, số học giả tăng gấp đôi với sự xuất hiện của hai gương mặt mới.
Một trong hai học giả đó là PGS. Nguyễn Hoàng Phương, đang công tác tại Học viện Chính trị Khu vực II. Ông đã có nhiều đóng góp quan trọng cả về lý thuyết lẫn thực tiễn trong nghiên cứu mối quan hệ giữa logistics, giao thông vận tải và chiến lược tăng trưởng xanh. Các công trình của ông bao quát nhiều chủ đề, từ những nghiên cứu tiên phong về hệ thống đẩy điện trong vận tải biển như một giải pháp quản lý phát thải CO2 đến các nghiên cứu đổi mới về chiến lược cảng xanh, du lịch sinh thái và giải pháp logistics thông minh nhằm thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu của Việt Nam [3-5].
Đáng chú ý, ba trong số bốn học giả KHXH&NV đều đến từ Trung tâm ISR: GS. Vương Quân Hoàng, TS. Nguyễn Minh Hoàng và TS. Hồ Mạnh Tùng.
Cả ba học giả này đồng hành trong phần lớn các công trình khoa học đại diện cho ba định hướng nghiên cứu chính của Trung tâm ISR hiện nay: (1) phương pháp khoa học xã hội, (2) mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, và (3) vai trò của trí khôn con người trong kỷ nguyên thông tin.
Trong đó, về phương pháp khoa học xã hội, ISR là một trong số ít trung tâm nghiên cứu trên thế giới tự phát triển phần mềm phân tích thống kê Bayes và nền tảng lý thuyết riêng để xây dựng phương pháp luận bayesvl/BMF, phục vụ cho mục tiêu sản xuất tri thức sáng tạo trong KHXH&NV. Đặc biệt, phương pháp luận này được xây dựng dựa trên nguyên lý sử dụng hiệu quả các nguồn lực hạn chế, vốn là định hướng nhất quán của Trung tâm ngay từ ngày đầu thành lập.
Đối với hướng nghiên cứu thiên nhiên – con người, Trung tâm đã có nhiều đóng góp nhằm thúc đẩy chuyển dịch hệ thống văn hóa, xã hội và kinh tế toàn cầu theo hướng hài hòa với tự nhiên. Nổi bật là các đề xuất về Trí tuệ Sinh thái (Nature Quotient – NQ) bên cạnh IQ và EQ, cũng như các phân tích cảnh báo về rủi ro hình thành "bong bóng pin" trong nền kinh tế thế giới do sự nóng vội trong quá trình chuyển đổi xanh.
Trước thực tế môi trường thông tin ngày càng hỗn loạn và tiềm ẩn nhiều rủi ro, Trung tâm ISR đã triển khai các nghiên cứu chỉ ra những lỗ hổng trong hệ thống niềm tin, đạo đức và giáo dục, cho thấy sự lan truyền nhanh chóng của thông tin sai lệch, những điểm mù nhận thức và đạo đức, cũng như sự phụ thuộc quá mức vào máy móc có thể làm suy yếu năng lực trí tuệ của con người. Đồng thời, Trung tâm quan tâm tìm hiểu các cách thức nuôi dưỡng trí khôn, năng lực phân tích – đánh giá, ý thức đạo đức và sự hiểu biết thông qua quá trình tương tác ngày càng sâu rộng giữa con người và máy tính.
Bên cạnh hoạt động chuyên môn, Trung tâm ISR còn tích cực tham gia hỗ trợ và đào tạo phương pháp luận bayesvl/BMF cho nhiều nhà nghiên cứu trẻ và học giả tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Indonesia, Kenya, Nam Phi, Thái Lan, Trung Quốc, Úc, Zimbabwe, v.v. [6]. Điều này phản ánh rõ tinh thần công ích và trách nhiệm toàn cầu, đặc biệt khi giới nghiên cứu KHXH&NV đang đối diện với tình trạng cắt giảm tài trợ, cùng những tác động nặng nề từ chiến tranh và xung đột. Được biết, gần đây Trung tâm đã nhận lời hỗ trợ hướng dẫn thực hiện phân tích và viết bài nghiên cứu khoa học cho một nhà khoa học Iran trong bối cảnh đất nước này bị Israel tấn công quân sự.
Có lẽ không phải tình cờ mà ba trong số bốn học giả Việt Nam trên Danh sách Stanford 2025 đều xuất thân từ Trung tâm ISR, mà trường hợp này phản ánh kết quả của một định hướng phát triển có hệ thống. TS. Nguyễn Minh Hoàng, nghiên cứu viên của Trung tâm ISR, từng chia sẻ trên Khoa học & Phát triển [7]: "Trung tâm đã xác định [...] đặt mục tiêu đóng góp cho các vấn đề thời đại, dấn thân vào những việc tưởng chừng như không thể; xây dựng công cụ và phương pháp đủ mạnh để đua tranh quốc tế; xây dựng các triết lý về chất lượng và tác động; triển khai công việc không định kiến, không câu nệ kiểu loại; và đưa tri thức ra thị trường."
Trường hợp của Trung tâm ISR cũng cho thấy, vị thế KHXH&NV không chỉ được quyết định bởi ngân sách, mà còn phải dựa trên những nền tảng khác như sự dấn thân, tinh thần hướng thượng, năng lực sáng tạo và ý thức công ích.
Tài liệu tham khảo
[1] Ioannidis JPA. (2024). August 2024 data-update for "Updated science-wide author databases of standardized citation indicators." Elsevier Data Repository. https://doi.org/10.17632/btchxktzyw.7
[2] Ioannidis JPA, Baas J, Klavans R, Boyack KW. (2019). A standardized citation metrics author database annotated for scientific field. PLoS Biology, 17(8), e3000384. https://doi.org/10.1371/journal.pbio.3000384
[3] Nguyen HP, et al. (2020). The electric propulsion system as a green solution for management strategy of CO2 emission in ocean shipping: A comprehensive review. International Transactions on Electrical Energy Systems. https://doi.org/10.1002/2050-7038.12580
[4] Nguyen HP, Nguyen PQP, Nguyen TP. (2022). Green port strategies in developed coastal countries as useful lessons for the path of sustainable development: A case study in Vietnam. The International Journal of Renewable Energy Development, 11, 950-962. https://doi.org/10.14710/ijred.2022.46539
[5] Nguyen HP, et al. (2021). Application of the Internet of Things in 3E (efficiency, economy, and environment) factor-based energy management as smart and sustainable strategy. Energy Sources, Part A: Recovery, Utilization, and Environmental Effects, 47, 9586-9608.
https://doi.org/10.1080/15567036.2021.1954110
[6] Hoàng NM, Lã VP. (2025). Hệ lý thuyết-phương pháp luận của Trung tâm ISR: Hành trình phát triển, ứng dụng và hỗ trợ cộng đồng. Đại học Phenikaa.
[7] Hoàng, NM. (2025). Xây dựng nghiên cứu khoa học liên ngành qua ví dụ quản trị mục tiêu lớn.
Bài đăng KH&PT số 1363 (số 39/2025)
Dương Thị Minh Phượng - Trường Đại học Tôn Đức Thắng
