Trong bối cảnh Việt Nam đang tái khởi động chương trình điện hạt nhân, Tia Sáng đã phỏng vấn TS. Lê Chí Dũng - chuyên gia pháp quy có nhiều đóng góp quan trọng nhằm phân tích, định hình các bài toán nhân lực điện hạt nhân - về những thách thức của công tác chuẩn bị nhân lực.
Thưa ông, để vận hành hiệu quả một nhà máy điện hạt nhân, bài toán về nhân lực cần được đặt ra như thế nào, có gì khác với các nhà máy thông thường?
Khác với nhiều dự án năng lượng khác, một nhà máy điện hạt nhân có thể vận hành trong 60-80 năm, thậm chí lâu hơn nếu được gia hạn tuổi thọ. Điều đó đồng nghĩa với việc quốc gia sở hữu phải duy trì liên tục đội ngũ chuyên gia về pháp quy, an toàn, vận hành, bảo dưỡng, ứng phó sự cố và quản lý chất thải phóng xạ qua nhiều thế hệ.
TS. Lê Chí Dũng, nguyên Phó Cục trưởng Cục An toàn bức xạ và hạt nhân. Ảnh: NVCC
Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế IAEA luôn khẳng định rằng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố hạ tầng quan trọng nhất quyết định thành công của chương trình điện hạt nhân.
Bài toán nhân lực đặt ra cho Việt Nam lúc này là xác định cần bao nhiêu nhân lực và phải bắt đầu chuẩn bị từ khi nào.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy những quốc gia thành công trong phát triển điện hạt nhân đều bắt đầu chuẩn bị nguồn nhân lực từ rất sớm, trước khi khởi công xây dựng nhà máy nhiều năm. Ngược lại, sự thiếu hụt chuyên gia có thể làm chậm tiến độ cấp phép, kéo dài thời gian xây dựng và làm tăng chi phí dự án.
Ông có thể đánh giá con số nhân lực cần thiết cho nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Việt Nam là bao nhiêu?
Một trong những thách thức lớn nhất đối với các quốc gia phát triển điện hạt nhân là xác định chính xác số lượng và cơ cấu nhân lực cần thiết trong từng giai đoạn của chương trình. Nếu dự báo thiếu, dự án có thể đối mặt với tình trạng thiếu hụt chuyên gia, ảnh hưởng đến tiến độ xây dựng, cấp phép và vận hành. Ngược lại, nếu dự báo vượt quá nhu cầu thực tế, nguồn lực đào tạo và đầu tư cho phát triển nhân lực có thể bị lãng phí. Để hỗ trợ các quốc gia giải quyết bài toán này, IAEA đã phát triển Mô hình nguồn nhân lực điện hạt nhân - Nuclear Power Human Resources Model.
Sinh viên ngành Công nghệ Kỹ thuật hạt nhân, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: HUS
Theo mô hình của IAEA, một nhà máy điện hạt nhân quy mô hai tổ máy thường cần khoảng 700-1.000 nhân viên vận hành và hỗ trợ kỹ thuật thường xuyên sau khi đưa vào khai thác thương mại.
Nhưng nhu cầu nhân lực điện hạt nhân không chỉ bao gồm những người trực tiếp vận hành nhà máy mà còn mở rộng sang nhiều tổ chức khác.
Chẳng hạn, cơ quan pháp quy hạt nhân cần khoảng 100-300 chuyên gia về cấp phép, đánh giá an toàn, thanh tra, bảo vệ bức xạ, ứng phó sự cố và an ninh hạt nhân. Tổ chức hỗ trợ kỹ thuật cần khoảng 200-400 chuyên gia trong các lĩnh vực đánh giá thiết kế, phân tích an toàn, phân tích xác suất, nhiên liệu hạt nhân, vật liệu và ứng phó sự cố. Trong khi đó, chủ đầu tư và đơn vị chuẩn bị dự án cần khoảng 300-500 cán bộ quản lý dự án, kỹ thuật, mua sắm, hợp đồng và bảo đảm chất lượng; và các trường đại học, viện nghiên cứu và cơ sở đào tạo cần khoảng 200-300 giảng viên, nhà nghiên cứu và chuyên gia đào tạo chuyên ngành hạt nhân. Các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức ứng phó sự cố, y tế hạt nhân, quan trắc môi trường và các ngành công nghiệp hỗ trợ cũng cần hàng trăm chuyên gia và kỹ sư.
Việc phát triển đồng bộ các nhóm nhân lực này giúp hình thành hệ sinh thái nhân lực hạt nhân quốc gia có khả năng hỗ trợ lâu dài cho chương trình điện hạt nhân.
Nhẩm tính từ các con số ông vừa nêu có thể thấy, để triển khai thành công nhà máy điện hạt nhân đầu tiên gồm hai tổ máy, Việt Nam cần chuẩn bị khoảng 2.000-3.000 nhân sự?
Đúng vậy, chưa kể đây còn phải là nhân sự có trình độ học vấn và kinh nghiệm ở mức cao hơn so với các nguồn năng lượng khác.
Ngoài ra, trong giai đoạn xây dựng cao điểm, lực lượng lao động tại công trường có thể lên tới vài nghìn đến hàng vạn người, tùy thuộc vào mức độ tham gia của các nhà thầu trong nước và quốc tế.
Nhân lực cho điện hạt nhân của Việt Nam còn đang rất mỏng, vậy chúng ta có thể tuyển dụng nhân lực điện hạt nhân từ những nguồn nào?
Đối với một quốc gia mới bắt đầu phát triển điện hạt nhân, để có được nhân sự giàu kinh nghiệm, chúng ta có các phương án hướng ra bên ngoài như tuyển dụng công dân đang làm việc ở nước ngoài; cử nhân sự ra nước ngoài công tác để tích lũy kinh nghiệm; hoặc tuyển dụng nhân sự giàu kinh nghiệm từ nước ngoài và sử dụng họ để đào tạo nhân sự trong nước thông qua các chương trình kèm cặp hoặc quan sát thực tế công việc.
Đồng thời, chúng ta cũng có thể tuyển chọn nhân sự phù hợp từ các cơ sở nghiên cứu hạt nhân trong nước, chẳng hạn từ các lò phản ứng nghiên cứu.
Sinh viên thực tập trên lò phản ứng hạt nhân tại Viện nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt. Ảnh: NRI
Chương trình điện hạt nhân còn cần số lượng lớn kỹ sư cơ khí, điện, tự động hóa, xây dựng, công nghệ thông tin, chuyên gia quản lý dự án, chuyên gia pháp lý, kinh tế và truyền thông. Do đó, chiến lược nguồn nhân lực cần được tích hợp với hệ thống giáo dục quốc gia, các trường đại học, viện nghiên cứu và các chương trình đào tạo nghề để bảo đảm nguồn cung nhân lực bền vững trong dài hạn.
Với những nguồn nhân lực cần thiết như vậy cho một dự án điện hạt nhân, ông đánh giá việc đào tạo lực lượng nào là thách thức nhất?
Tôi cho rằng, thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay có thể không phải là đào tạo kỹ sư vận hành nhà máy, mà là khôi phục và phát triển đội ngũ chuyên gia đầu ngành về pháp quy, đánh giá an toàn, phân tích thiết kế và tổ chức hỗ trợ kỹ thuật. Những lĩnh vực này cần thời gian tích lũy kinh nghiệm dài nhất và đóng vai trò quyết định trong việc bảo đảm tính độc lập, khách quan của hệ thống quản lý an toàn hạt nhân.
Bởi vậy, theo tôi, kế hoạch nhân lực cần xác định thời điểm tuyển dụng các cá nhân này - có tính đến thời gian cần thiết cho công tác đào tạo cũng như thời điểm họ cần bắt đầu thực hiện nhiệm vụ công việc.
Liệu có rủi ro nhân sự thay đổi, từ bỏ trong quá trình đào tạo và làm việc?
Do quy trình đào tạo kéo dài và yêu cầu về năng lực chuyên môn đặc thù, việc mất nhân sự ngoài kế hoạch trong ngành điện hạt nhân gây ra tổn thất lớn, cả về mặt tài chính lẫn tiến độ thực hiện chương trình. Vì vậy, song song với việc đào tạo nhân lực mới, chúng ta cần có cơ chế giữ chân và phát triển đội ngũ chuyên gia đã được đào tạo trong các giai đoạn trước của chương trình điện hạt nhân Việt Nam.
Ví dụ, khi nhân viên được cử đi đào tạo ở nước ngoài, họ có thể bị thu hút bởi các cơ hội nghề nghiệp tại nước sở tại. Nhưng nếu chúng ta có chính sách đãi ngộ hoặc thỏa thuận chính thức, khả năng cao nhân viên sẽ quay trở lại làm việc sau khi hoàn tất khóa đào tạo.
Theo kinh nghiệm quốc tế, chương trình điện hạt nhân nên được quảng bá như một cơ hội tham gia vào dự án quốc gia, mang lại tiềm năng cải thiện chất lượng cuộc sống chung của đất nước.
Ngoài ra, cần theo dõi sát sao tỷ lệ biến động nhân sự, đồng thời thiết lập quy trình để nắm bắt lý do nhân viên nghỉ việc và quản lý quy trình thôi việc của họ.
Đáng chú ý, nhiều chuyên gia của chúng ta hiện nay đang nắm giữ khối lượng lớn tri thức và kinh nghiệm tích lũy từ quá trình chuẩn bị dự án điện hạt nhân Ninh Thuận trước đây. Nếu không có các chương trình quản lý tri thức phù hợp, những kinh nghiệm này có nguy cơ bị mai một hoặc thất thoát khi các chuyên gia nghỉ hưu hoặc chuyển công tác.
Với những lý do nêu trên, quản lý tri thức hạt nhân cần được xem là một cấu phần quan trọng của chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia nhằm đảm bảo rằng các kiến thức và kỹ năng chuyên biệt của nhiều thế hệ đội ngũ nhân sự của nhà máy kế tiếp nhau được lưu trữ và chia sẻ trong suốt vòng đời của nhà máy. Các chương trình cố vấn hoặc kèm cặp trực tiếp có thể là phương thức hiệu quả để chuyển giao tri thức từ nhân sự giàu kinh nghiệm sang nhân sự ít kinh nghiệm hơn.
Hiện nay, Việt Nam đã bắt đầu triển khai những khóa đào tạo cụ thể nào nhằm chuẩn bị nhân lực điện hạt nhân?
Theo tôi được biết, Cục An toàn bức xạ và hạt nhân đang có kế hoạch hợp tác với Cơ quan Pháp quy LB Nga (Rostechnadzor) tổ chức các khóa đào tạo tăng cường năng lực trong hai năm 2026-2027. Trong khi đó, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam hợp tác ba bên với Trường Đại học Năng lượng Matxcơva và một trường đại học của Việt Nam để đào tạo cán bộ. Và tất nhiên, các chủ đầu tư EVN, PVN... sẽ ký hợp đồng để đối tác nước ngoài đào tạo nhân lực cho các dự án điện hạt nhân.
Phát triển nguồn nhân lực điện hạt nhân cần được xem là một chiến lược quốc gia dài hạn bởi trong khi việc xây dựng một nhà máy điện hạt nhân thường mất khoảng 7–10 năm, thì việc hình thành đội ngũ chuyên gia có năng lực có thể cần từ một đến hai thập kỷ. Nếu được triển khai một cách đồng bộ và liên tục, với sự gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, cơ quan pháp quy, chủ đầu tư, cơ sở nghiên cứu, trường đại học và các đối tác quốc tế, nguồn nhân lực sẽ trở thành một trong những lợi thế quan trọng nhất giúp Việt Nam bảo đảm an toàn, làm chủ công nghệ và phát triển bền vững chương trình điện hạt nhân trong nhiều thập kỷ tới.
Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi.
Ngọc Nhu thực hiện