
Các container vận chuyển ở cảng Hải Phòng. Ảnh: Hai PhongPort
"Người thắng cuộc" bất ngờ trong cuộc thương chiến 2018
Một bản thảo nghiên cứu do ba nhà nghiên cứu kinh tế Matthew E. Kahn, Wen-Chi Liao và Siqi Zheng công bố trên website của Cục Nghiên cứu Kinh tế Quốc gia Mỹ (NBER) vào tháng 11/2024 cho thấy hàng rào thuế quan của chính quyền Mỹ trong thời kỳ chiến tranh thương mại Mỹ - Trung năm 2018 đã tạo ra một khoảng cách giá, khiến các công ty Trung Quốc tích cực chuyển sản xuất sang Việt Nam để né thuế.
Điều này không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho các tỉnh và thành phố miền Bắc Việt Nam nhờ dòng vốn FDI, mà còn giúp khu vực này phát triển theo hướng sạch hơn, bền vững hơn so với mô hình công nghiệp hóa truyền thống.
Yếu tố then chốt, theo nhóm nghiên cứu, là vị trí địa lý và ngành công nghiệp tương đồng với các trung tâm sản xuất Trung Quốc. Những thành phố gần Trung Quốc, có nền công nghiệp bổ trợ, đã tăng trưởng nhanh hơn nhờ thu hút đầu tư nước ngoài (FDI), tạo thêm việc làm và thu hút người lao động nhập cư.
Miền Bắc Việt Nam giáp tỉnh Vân Nam của Trung Quốc ở phía tây bắc và tỉnh Quảng Tây ở phía đông bắc. Nó cũng gần tỉnh Quảng Đông, nơi sản xuất một phần tư hàng xuất khẩu của Trung Quốc, và có các thành phố Thẩm Quyến và Quảng Châu.
Hàng hóa chỉ mất sáu giờ để đi từ Quảng Đông đến Việt Nam. Nếu lái xe sáu giờ có thể tránh được 25% thuế nhập khẩu của Mỹ, thì nhiều chuỗi cung ứng Trung Quốc chắc chắn có động lực mạnh mẽ để thuê ngoài một số bước sản xuất và lắp ráp tại các thành phố Việt Nam.
Theo tính toán của các tác giả Matthew E. Kahn, Wen-Chi Liao và Siqi Zheng về hiệu ứng biên giới, khi lợi thế thuế quan của tỉnh biên giới của Việt Nam tăng 1% so với Trung Quốc thì sản lượng kinh tế (tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất) của các doanh nghiệp ở địa phương đó có xu hướng tăng lên 4,6%.
Hiệu ứng tăng trưởng sản lượng này chỉ đúng hoặc mạnh mẽ hơn đối với các địa phương nằm gần Trung Quốc. Cứ thêm mỗi 100 km xa Trung Quốc hơn, mức tăng trưởng sản lượng của địa phương Việt Nam sẽ giảm 0,2%, cho đến khi tác động ưu đãi thuế quan bị loại bỏ hoàn toàn ở vị trí xa nhất cách Trung Quốc 2.000 km theo đường bộ, tức các tỉnh miền Nam.
Điều này tạo nên một sự đảo chiều bất ngờ trong mô hình đô thị Việt Nam. Trước đây, miền Nam – với đầu tàu TPHCM – là trung tâm kinh tế chính. Nhưng sau cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung, các thành phố miền Bắc như Hải Phòng, Hà Nộiđang bắt kịp rất nhanh. Các tác giả cho rằng sự phân tán này giúp giảm áp lực lên các đô thị lớn như tắc nghẽn giao thông hay quản lý yếu kém.
Một điểm rất đáng chú ý là sự bùng nổ công nghiệp này không kéo theo ô nhiễm môi trường như ở Trung Quốc. Thay vì phụ thuộc vào than đá như Trung Quốc trước đây, Việt Nam đang khai thác tốt các nguồn năng lượng sạch như thủy điện, mặt trời, gió và sinh khối. Nhiều doanh nghiệp FDI đến Việt Nam cũng mang theo công nghệ sạch và tiêu chuẩn môi trường cao. Tính đến năm 2021, năng lượng sạch đã chiếm hơn 50% trong lưới điện Việt Nam.
Các tính toán mô hình của nhóm Matthew E. Kahn, Wen-Chi Liao và Siqi Zheng cho thấy mức tăng 1% trong sản lượng của một thành phố sẽ gây ra ít suy giảm chất lượng không khí (PM2.5) hơn và ít phát thải khí nhà kính (CO2) hơn, nếu năng lượng sạch chiếm tỷ trọng lớn hơn trong nguồn điện mà thành phố đó có thể tiếp cận.
Kết quả là, các thành phố đang phát triển ở Việt Nam tránh được con đường phát triển gây ô nhiễm mà Trung Quốc từng trải qua. Năng lượng sạch giúp giảm rõ rệt các chất gây hại như PM2.5 và CO₂, dù kinh tế vẫn tăng trưởng mạnh.
Nhóm nghiên cứu gọi đây là mối quan hệ "hai bên cùng thắng" (win-win) giữa Trung Quốc và Việt Nam: Trung Quốc giữ vai trò sản xuất đầu chuỗi, Việt Nam đảm nhiệm lắp ráp cuối chuỗi, từ đó né được thuế quan của Mỹ và cùng phát triển. Thậm chí, Việt Nam sẽ có lợi trong trung hạn nếu biết học hỏi trong quá trình sản xuất hàng hóa công nghiệp. Và nếu giả định về sử dụng năng lượng ở hai nước cũng là đúng thì việc một số hoạt động kinh tế chuyển từ Trung Quốc sang Việt Nam có thể dẫn đến cải thiện chất lượng môi trường ở cả hai bên.
Cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung vô tình đã tạo điều kiện để miền Bắc Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất xanh, cạnh tranh hơn. Đây là ví dụ điển hình về cách các cú sốc chính trị toàn cầu có thể định hình lại kinh tế và đô thị khu vực – đôi khi theo hướng tích cực.
Thuế đối ứng mới
Vậy điều gì sẽ xảy ra khi Mỹ áp dụng một loại thuế đặc biệt, gọi là "thuế đối ứng", tức mức thuế nhập khẩu bổ sung mà Mỹ cho là cần thiết để cân bằng thâm hụt thương mại song phương với các đối tác thương mại.
Trong tuyên bố ban đầu hồi đầu tháng 4/2025, Việt Nam bị áp mức thuế đối ứng 46%, trong khi Trung Quốc sẽ phải chịu mức thuế đối ứng lên tới 84%.
Đến ngày 9/4, Mỹ hạ mức thuế đối ứng của Việt Nam và nhiều nước khác xuống còn 10% trong vòng 90 ngày đàm phán sắp tới, trong khi nâng mức thuế (bao gồm cả thuế đối ứng và mức thuế đã có sẵn từ trước) với Trung Quốc lên 125%. Điều này làm tăng đáng kể khoảng cách chênh lệch thuế giữa hàng hóa của hai nước khi nhập khẩu vào Mỹ, ít nhất là trong ngắn hạn. Liệu tình hình này có đem lại lợi thế cho Việt Nam?
Các trích dẫn trong nghiên cứu của Matthew E. Kahn, Wen-Chi Liao và Siqi Zheng gợi ý một vài góc nhìn tham khảo.
Cụ thể, theo các nghiên cứu trước đó, mỗi 1% tăng thêm của thuế nhập khẩu vào năm 2018 đã khiến lượng hàng nhập khẩu vào Mỹ giảm 6% (Amiti và cộng sự, 2019). Nguyên do là khi thuế quan áp lên hàng hóa Trung Quốc tăng lên 1%, thì tăng trưởng tiêu dùng của Mỹ có xu hướng giảm khoảng 1% (Waugh và cộng sự, 2019).
Một số nghiên cứu trong giai đoạn 2019-2022 cũng cung cấp bằng chứng cho thấy các nhà nhập khẩu Mỹ đã chuyển toàn bộ chi phí thuế phải trả khi nhập khẩu hàng Trung Quốc sang giá bán cho người tiêu dùng, mà không hấp thụ (tự chịu) bất kỳ phần nào. Do giá hàng hóa tăng lên, người dân Mỹ phải trả nhiều tiền hơn cho cùng một lượng hàng hóa, dẫn đến sự suy giảm về "phúc lợi" (mức độ hài lòng và lợi ích kinh tế) và "thu nhập thực tế" (khả năng mua hàng hóa và dịch vụ sau khi đã điều chỉnh theo lạm phát) của người dân Mỹ.
Nghiên cứu của Alfaro và Chor (năm 2023) phát hiện ra rằng trong giai đoạn 2017-2022, Mỹ nhập khẩu ngày càng nhiều hơn từ Việt Nam đối với những mặt hàng mà lượng nhập khẩu từ Trung Quốc lại giảm đi. Điều này củng cố nhận định là có một xu hướng chuyển dịch sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam, và người Mỹ đã bắt đầu có "khẩu vị" đối với việc nhập hàng thay thế từ Việt Nam.
Chiếu với tình hình hiện tại, chừng nào thuế quan Mỹ áp lên hàng hóa Trung Quốc vẫn cao hơn đáng kể so với Việt Nam (*), thì có thể suy đoán một cách hợp lý rằng các nhà sản xuất Trung Quốc vẫn sẽ có động lực mạnh mẽ để né thuế bằng cách đi vòng qua Việt Nam.
Một câu hỏi mở khác là nếu các chính sách thuế quan của Mỹ chỉ là ngắn hạn (vì Tổng thống Trump có thể thay đổi chính sách bất kỳ lúc nào như đã thấy hồi đầu tháng 4/2025 và trong 90 ngày tiếp theo) thì liệu điều đó có làm chậm lại dòng đầu tư vào các thành phố miền Bắc Việt Nam hay không? Nói cách khác, các nhà đầu tư Trung Quốc có trở nên do dự trong việc đầu tư dài hạn vào Việt Nam?
Thật khó để trả lời một cách chắc chắn câu hỏi này. Các tác giả Matthew E. Kahn, Wen-Chi Liao và Siqi Zheng thừa nhận phương pháp của họ (phân tích số liệu thực nghiệm) trong giai đoạn thương chiến 2018 không thể đưa ra các ước tính chính xác về tác động nhân quả của một chính sách thuế dài hạn. Tuy nhiên, họ cho rằng, ngay cả khi mức thuế giảm xuống, những tác động ngắn hạn ban đầu của việc chuyển hướng thương mại cũng đã có thể tạo ra một "đà" đủ mạnh để các thành phố miền Bắc Việt Nam tiếp tục phát triển theo một con đường tăng trưởng mới.
Tài liệu tham khảo:
[1] Kahn, M., Liao, W., & Zheng, S. (2024). "How the US-China Trade War Accelerated Urban Economic Growth and Environmental Progress in Northern Vietnam", NBER Working Paper 33126, https://doi.org/10.3386/w33126
[2] Amiti, M, Stephen J. R, and David E. W. (2019). "The Impact of the 2018 Tariffs on Prices and Welfare", Journal of Economic Perspectives, 33(4): 187–210.
[3] Waugh, M. E. (2019). "The Consumption Response to Trade Shocks: Evidence from the US-China Trade War." NBER Working Paper 26353
[4] Alfaro, L, and Chor. D (2023). "Global Supply Chains: The Looming ‘Great Reallocation’." NBER Working Paper 31661.
[*] Cập nhật các mức thuế đối ứng Mỹ áp cho các quốc gia tính đến ngày 9/4/2025 (whitehouse.gov) (lần 1) (lần 2) (lần 3)
Ngô Hà