Các ngành phát thải trọng điểm như điện, thép và xi măng sẽ chịu sự kiểm soát về trần phát thải. Ảnh: Giang Huy/VnExpress
Cụ thể, theo quyết định mới của chính phủ, ba ngành được cấp hạn ngạch phát thải 511 triệu tấn CO₂ cho giai đoạn thí điểm hệ thống mua bán phát thải (Emissions Trading System - ETS) 2025–2026.
Tham gia thí điểm có 34 nhà máy nhiệt điện, 25 cơ sở sản xuất sắt thép và 51 cơ sở sản xuất xi măng thuộc nhóm phát thải lớn nhất của mỗi ngành. Phát thải của các doanh nghiệp này có thể chiếm tới 40% tổng lượng phát thải của Việt Nam [1].
Trong giai đoạn thí điểm, các doanh nghiệp được chia nhau hạn ngạch phát thải 243 triệu tấn CO₂ cho năm 2025 và 268 triệu tấn CO₂ cho năm 2026 [2]
Cơ chế mới thúc đẩy cải tiến công nghệ
Chưa rõ hạn ngạch cụ thể phân bổ cho mỗi ngành nhưng theo quyết định mới, doanh nghiệp nào phát thải vượt hạn ngạch phải tìm cách mua quyền phát thải mà các cơ sở khác trong thí điểm đã không sử dụng hết trong cùng thời kỳ phân bổ, nếu không sẽ bị phạt hành chính (từ vài chục đến vài trăm triệu đồng) hoặc thậm chí có thể bị đình chỉ hoạt động, buộc khắc phục hậu quả và có thể phải nâng cấp, cải tạo hệ thống xử lý khí thải. Tuy nhiên giá mỗi hạn ngạch carbon (tương đương 1 tấn carbon) tạm thời chưa được quyết định.
Trong tình thế không đủ hạn ngạch để dùng, Nhà nước cho phép doanh nghiệp có thể bù trừ tối đa 30% hạn ngạch bằng tín chỉ carbon; hoặc vay hạn ngạch của chính mình trong tương lai nhưng không quá 15% để giải quyết tình trạng phát thải vượt mức cho phép ở hiện tại [3].
Nhưng dù theo cách nào, các quy định về phát thải và thị trường carbon đều phát đi một thông điệp chung rằng doanh nghiệp cần ưu tiên giảm phát thải bằng chính nội lực của mình thông qua việc đầu tư cải tiến công nghệ, lò hơi, dây chuyền sản xuất, hệ thống quản trị, điều hành...
Các doanh nghiệp phát thải trọng điểm từ 3.000 tấn CO2 một năm trở lên phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính định kỳ, xây dựng báo cáo và báo cáo cơ quan chức năng. Ảnh: Istock
Việc lựa chọn ba ngành điện, thép và xi măng xuất phát từ thực tế đây là những ngành phát thải lớn nhất, mặt khác cũng là các trụ cột công nghiệp có ảnh hưởng đến toàn nền kinh tế.
Nếu hạn ngạch bị siết quá nhanh, quá chặt, chi phí sản xuất có thể tăng do phải cộng thêm chi phí phát thải - lúc này không còn là chi phí ẩn - kéo theo giá điện và vật liệu xây dựng đi lên. Còn nếu quá nới lỏng, thị trường trao đổi hạn ngạch ETS sẽ mất ý nghĩa vì giá hạn ngạch không đủ cao để thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Vì vậy, thí điểm này giống như một nỗ lực nhằm dò nắn ranh giới mong manh giữa hai khả năng để xác lập một giải pháp cân bằng.
Trong giai đoạn hiện nay, hạn ngạch được phân bổ miễn phí nhằm hỗ trợ doanh nghiệp làm quen cơ chế mới. Tuy nhiên, hai-ba năm sau, Nhà nước có thể đấu giá hạn ngạch và mở rộng phạm vi ngành nghề điều chỉnh giảm phát thải.
Bằng cách đó, theo thời gian, ETS sẽ trở thành cơ chế tái phân bổ lợi nhuận trong ngành, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cấp công nghệ.
Một thị trường sắp được đo lường
Trong nhiều năm, nỗ lực giảm phát thải tại Việt Nam chủ yếu trông chờ vào sự tự nguyện của doanh nghiệp và các mục tiêu dài hạn do Nhà nước đặt ra, thay vì được thực thi bằng những ràng buộc pháp lý đủ mạnh. Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển nóng, cách tiếp cận này khiến lượng phát thải khí nhà kính tiếp tục tăng.
Dữ liệu thống kê của World Bank cho thấy tổng phát thải CO₂ của Việt Nam đã tăng gần năm lần chỉ trong hai thập kỷ gần đây, lên mức 430 triệu tấn năm 2024. Phát thải bình quân đầu người cũng là một đường dốc đi lên - từ 3,6 tấn năm 2020 lên khoảng 4,3 tấn trong năm 2024. [5]
Hạn ngạch phát thải và hệ thống ETS đánh dấu sự chuyển dịch của Việt Nam từ quản lý thuần hành chính sang quản trị kết hợp thị trường. Tuy nhiên, mục tiêu cuối cùng vẫn phải là giảm phát thải mà không làm suy yếu năng lực công nghiệp nội địa.
Nhiều nhà máy nhiệt điện đang áp dụng các công nghệ mới để giảm phát thải ra môi trường. Ảnh: EVN
Việt Nam đã bàn đến ETS và các thị trường carbon từ hơn một thập kỷ nay. Nhưng thách thức lớn nhất của hệ thống ETS thí điểm không hoàn toàn nằm ở bao nhiêu triệu tấn CO2 hạn ngạch được phân bổ mỗi năm, mà còn ở dữ liệu của từng doanh nghiệp tham gia.
Một thị trường carbon chỉ hoạt động nếu lượng phát thải được đo lường, báo cáo và kiểm chứng đáng tin cậy. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống kiểm kê, thuê đơn vị thẩm định độc lập và tuân thủ các quy trình kỹ thuật phức tạp. Giai đoạn thí điểm, vì thế, thực chất là quá trình xây dựng hạ tầng dữ liệu carbon quốc gia.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường hiện được giao điều phối toàn bộ - từ phân bổ hạn ngạch, hướng dẫn doanh nghiệp kiểm kê, đo lường khí thải cho đến đánh giá việc vận hành thị trường ETS, đảm bảo cơ chế trao đổi hạn ngạch dư thừa diễn ra minh bạch qua hệ thống quốc gia.
Các doanh nghiệp phát thải trọng điểm ở Việt Nam đã bắt đầu làm quen với việc xây dựng báo cáo phát thải khí nhà kính từ năm 2022, mặc dù đến nay mới chỉ có khoảng 10% doanh nghiệp trong diện hơn 2.100 doanh nghiệp phải báo cáo đã sẵn sàng [6].
Động lực cho việc phát triển các hệ thống ETS cũng không chỉ đến từ bên trong. Khi các thị trường lớn như châu Âu triển khai các cơ chế điều chỉnh carbon xuyên biên giới (CBAM), lượng phát thải gắn với hàng hóa xuất khẩu trở thành một yếu tố cạnh tranh.
Hệ số phát thải khí nhà kính của lưới điện Việt Nam đã giảm trong những năm gần đây, cho thấy nỗ lực cắt giảm khí nhà kính ở các nhà máy nhiệt điện và khả năng tích hợp các dạng năng lượng tái tạo ít phát thải tốt hơn vào trong lưới điện. Ảnh: EVN
Doanh nghiệp Việt đang đối mặt với cơ chế CBAM từ đầu năm nay. Nếu không chứng minh được mức phát thải theo chuẩn quốc tế, họ có thể phải chịu thêm chi phí carbon ở nước nhập khẩu (khoảng 80-100 euro/tấn hiện nay, và dự báo lên tới 140 euro/tấn vào năm 2030), tương đương với đội chi phí xuất khẩu thêm từ 5-15%. [7].
Do vậy, một hệ thống ETS vận hành hiệu quả và có thể liên thông được với quốc tế sẽ có tác dụng như một "lá chắn" thương mại cho Việt Nam. Điều này cũng được tính đến trong hệ thống ETS của Việt Nam sau giai đoạn 2028.
Định giá carbon bao nhiêu là vừa?
Một thực tế có thể xảy ra là thị trường ETS tồn tại trên danh nghĩa nhưng thiếu sức sống. Tình huống này thường phát sinh khi hạn ngạch được cấp quá nhiều hoặc khối lượng giao dịch hạn ngạch không đủ sôi động. Khi đó, giá carbon sẽ thấp và không tạo được động lực cho doanh nghiệp thay đổi. Hệ thống ETS khi đó trở thành một công cụ báo cáo hơn là một tín hiệu kinh tế.
Để tránh tình trạng này, bà Marianne Tan – Phó giám đốc Phụ trách chính sách và chiến lược khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Tập đoàn South Pole, nhấn mạnh tại một hội thảo hồi cuối năm ngoái rằng các nhà quản lý Việt Nam cần bảo đảm mục tiêu cốt lõi của hệ thống ETS là cắt giảm phát thải thực chất chứ không chỉ là "mua bán hạn ngạch" [8].
"Giá carbon chỉ có ý nghĩa khi nó đủ cao để thay đổi hành vi sản xuất và đầu tư của doanh nghiệp," bà Tan nói.
Ngành xi măng – một trong những nguồn phát thải CO₂ lớn – đang bước vào cuộc "tái thiết xanh". Ảnh: XMHT
Báo cáo năm 2025 của World Bank lưu ý, giá carbon cần đạt ít nhất 50-100 USD/tấn vào năm 2030 để thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ và giảm phát thải thực chất, đặc biệt ở các ngành năng lượng và công nghiệp nặng. Để đạt mục tiêu Net Zero, giá carbon cần phải cao hơn, lên tới khoảng 300 USD/tấn vào năm 2035.[9]
Các hệ thống ETS như của EU hiện nay đạt hiệu quả cao nhất khi giá ổn định trên 50 USD/tấn, dẫn đến giảm 15-30% phát thải mà không làm suy yếu tăng trưởng kinh tế. Giá thấp hơn (dưới 20 USD/tấn) chủ yếu mang tính biểu tượng, chỉ ảnh hưởng đến quyết định nội bộ chứ chưa thay đổi chiến lược đầu tư lớn vào công nghệ sạch. [9]
Để thị trường carbon không biến động quá mạnh, bà Marianne Tan chỉ ra rằng nhiều quốc gia đã đặt mức giá sàn và giá trần, tạo thành một hành lang giá, giúp doanh nghiệp dự đoán chi phí khi lập kế hoạch đầu tư vào cải tiến công nghệ hoặc thay đổi quy trình. Việt Nam cũng có thể cân nhắc áp dụng cơ chế tương tự, đồng thời điều chỉnh linh hoạt theo lạm phát và chu kỳ kinh tế để giữ tín hiệu giá luôn phù hợp với thực tế doanh nghiệp.
Theo lộ trình hiện nay, hệ thống mua bán phát thải ETS của Việt Nam sẽ được vận hành đầy đủ từ năm 2029. Khi đó, cơ chế này được áp dụng trên diện rộng và trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp thuộc diện kiểm soát phát thải.
Trong ngắn hạn, việc triển khai hệ thống ETS có thể làm tăng thêm thủ tục và chi phí cho doanh nghiệp. Nhưng về dài hạn, tác động của nó sẽ mang tính cấu trúc. Bởi khi chi phí phát thải CO₂ có giá, mọi quyết định đầu tư – từ lò nung xi măng đến bộ lọc tĩnh điện của nhà máy – sẽ phải tính đến chi phí này.
Khi đó, phát thải không chỉ xoay quanh vấn đề môi trường mà còn ảnh hưởng tới năng suất, công nghệ và chỗ đứng của nền công nghiệp Việt Nam trong một thế giới mà việc phát thải carbon được định giá liên tục và sát sao.
---
Tài liệu tham khảo:
[1] Vi Huyền, (2025), Đến 2026, dự kiến phân bổ 40% hạn ngạch phát thải khí nhà kính. Bộ Nông nghiệp và Môi trường, truy cập ngày 24/2/2026. https://mae.gov.vn/den-2026-du-kien-phan-bo-40-han-ngach-phat-thai-khi-nha-kinh-17775.htm
[2] Quyết định số 263/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho năm 2025 – 2026. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=216923
[3] Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 7/1/2022 của Chính phủ quy định giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=205039Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 09 tháng 06 năm 2025 của Chính phủ: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 06/2022/NĐ-CP; https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=213875
[4] NAAN Group (2026), Mua bán phát thải 2026: Doanh nghiệp không còn được 'phát thải miễn phí', truy cập ngày 24/2/2026. https://naangroup.com/blogs/news/mua-ban-phat-thai-2026
[5] World Bank Open Data, Vietnam, truy cập ngày 24/2/2026. https://data.worldbank.org/country/viet-nam
[6] Tùng Dương, (2024), Mới chỉ có khoảng 10% doanh nghiệp sẵn sàng cho báo cáo phát thải khí nhà kính, VnEconomy, truy cập ngày 24/2/2026. https://vneconomy.vn/moi-chi-co-khoang-10-doanh-nghiep-san-sang-cho-bao-cao-phat-thai-khi-nha-kinh.htm
[7] Chu, H. L., Do, N. T., Nguyen, L., et al. (2024), The economic impacts of the European Union’s Carbon Border Adjustment Mechanism on developing countries: the case of Vietnam. Fulbright Review of Economics and Policy, 4(1), pages 1-17. https://doi.org/10.1108/FREP-03-2024-0011
[8] Thu Hường, (2025), Giá carbon toàn cầu sẽ tăng gấp đôi – Việt Nam cần chuẩn bị gì? Báo Công Thương, truy cập ngày 24/2/2026. https://congthuong.vn/gia-carbon-toan-cau-se-tang-gap-doi-viet-nam-can-chuan-bi-gi-425007.html
[9] World Bank, (2025), State and Trends of Carbon Pricing 2025. https://www.worldbank.org/en/publication/state-and-trends-of-carbon-pricing