"Thung lũng xanh" kéo theo cả chuỗi chế tạo, dịch vụ ven bờ
Ở Cuxhaven, Đức, nhìn từ trên cao, toàn bộ khu vực cảng biển như một đại công trường hiện đại của những "gã khổng lồ" quạt gió thu năng lượng từ gió biển, trong cảng là những cấu kiện khổng lồ được chế tạo, tập kết, lắp ráp rồi đưa ra ngoài khơi. Quanh đó là các doanh nghiệp logistics, dịch vụ kỹ thuật, vận hành và bảo dưỡng.
Kai Sawischlekwski, Cơ quan Phát triển Kinh tế Cuxhaven, kể về hệ sinh thái trung tâm dịch vụ năng lượng tái tạo và mục tiêu khi xây dựng là "chuẩn bị sẵn hạ tầng để đón làn sóng tăng trưởng tiếp theo của điện gió ngoài khơi", trong một Hội thảo "Thúc đẩy phát triển Trung tâm Năng lượng tái tạo tại Việt Nam" do Bộ Công Thương và GIZ tổ chức đầu tháng 9/2026.
Trong Quy hoạch điện VIII điều chỉnh năm ngoái, Việt Nam đã đặt mục tiêu phát triển hai trung tâm công nghiệp, dịch vụ như vậy nhằm phát triển ít nhất 6 GW công suất điện gió ngoài khơi cho hệ thống vào năm 2030. Quy mô này đủ cung cấp điện cho gần 5 triệu hộ gia đình. Nhưng quan trọng hơn, mô hình một "thung lũng công nghiệp xanh", nơi lắp đặt các tuabin ngoài khơi, sẽ là động lực kéo theo cả chuỗi chế tạo, dịch vụ trên bờ.
Đề xuất này đang chuẩn bị bước vào nghiên cứu giai đoạn 2, nhằm xác định các tiêu chí phù hợp để lựa chọn địa điểm đặt các Trung tâm này. Kết quả sẽ được cơ quan quản lý xem xét để hoàn thiện, tổ chức hội thảo kỹ thuật nhằm tham vấn chuyên gia vào cuối năm 2026.
Nếu điện gió ngoài khơi phát triển, những vùng ven biển nào có thể trở thành nơi chế tạo, lắp ráp, vận chuyển, bảo dưỡng và cung cấp dịch vụ cho cả ngành công nghiệp này?
Lắp đặt một tuabin điện gió ngoài khơi ở châu Âu. Ảnh: Siemens
Ba tiêu chí lựa chọn
Theo ông Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Tăng trưởng xanh (CEGR), chuyên gia tư vấn độc lập cho Cục Điện lực, có ba tiêu chí then chốt để lựa chọn vị trí các Trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo (RE Hub).
Thứ nhất là hạ tầng cảng chuyên dụng: Đây là "trái tim" nhưng cũng là thách thức lớn nhất, bởi điện gió ngoài khơi sử dụng các cấu kiện siêu trường, siêu trọng, có thể nặng tới 2.500 tấn. Cảng phải có mớn nước trên 10m, nền bãi và cầu cảng chịu tải 15-25 tấn/m², cùng mặt bằng rộng hàng chục đến hàng trăm hecta để chế tạo, lưu trữ, lắp ráp và trung chuyển. Riêng khu vực lắp ráp cần khoảng 30ha cho mỗi GW điện gió ngoài khơi. Suất đầu tư hạ tầng thô có thể lên tới khoảng 1 tỷ euro cho 100ha, đòi hỏi các mô hình PPP và cơ chế hỗ trợ dài hạn.
Thứ hai là cam kết chính sách dài hạn: Nhà đầu tư cần một danh mục dự án ổn định trong 20-25 năm để mạnh dạn rót vốn. Vì vậy, địa phương phải có chính sách về đất đai, quy hoạch, thuế, tài chính, logistics và cơ chế sử dụng điện xanh, đồng thời xây dựng lộ trình nội địa hóa phù hợp.
Thứ ba là chiến lược nhân lực: Lực lượng lao động dầu khí ngoài khơi là lợi thế lớn, có thể chuyển đổi kỹ năng sang điện gió. Bên cạnh đó, sự hiện diện của trường đại học, viện nghiên cứu và trung tâm R&D sẽ giúp hình thành hệ sinh thái công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao.
Đề xuất hai mô hình
Với những tiêu chí này, ông Sơn cho biết, Cục Điện lực đề xuất hai mô hình khác nhau, tương ứng với hai địa điểm mà họ đánh giá sơ bộ là tương đối phù hợp để đặt các Trung tâm RE Hub.
Thứ nhất là cụm cảng phía Nam, tập trung ở khu vực Vũng Tàu - Bình Thuận - Ninh Thuận, nơi có thể kế thừa hạ tầng và nguồn nhân lực từ ngành dầu khí ngoài khơi như cảng nước sâu, bãi chế tạo và lực lượng kỹ thuật của PTSC, Vietsovpetro. Hướng phát triển là chế tạo các cấu kiện lõi như móng cố định, trạm biến áp ngoài khơi để xuất khẩu, đồng thời hình thành căn cứ dịch vụ vận hành, bảo dưỡng và logistics cho các dự án điện gió và ngư trường Nam Trung Bộ. Mô hình này giống cảng Esbjerg (Đan Mạch), nơi từ năm 2001 chuyển đổi từ cảng dịch vụ dầu khí thành trung tâm phục vụ điện gió ngoài khơi của châu Âu, hiện quy tụ hơn 200 doanh nghiệp, tạo việc làm cho khoảng 10.000 lao động.
Xưởng chế tạo của PTSC ở Vũng Tàu với các móng giàn hút chân không (SBJ) màu vàng lớn được sản xuất cho các dự án điện gió ngoài khơi quốc tế. Ảnh: PTSC
Đề xuất thứ hai liên quan đến cụm cảng phía Bắc, với trọng điểm là khu vực Hải Phòng - Quảng Ninh. Khác với lợi thế hạ tầng cảng sẵn có của ngành dầu khí ở phía Nam, mô hình cảng phía Bắc nhắm đến việc khai thác thế mạnh của các tổ hợp công nghiệp tập trung sẵn có như luyện thép, cơ khí chế tạo tháp gió và các doanh nghiệp phụ trợ cấp 2, cấp 3 trong vòng bán kính 100km.
Hướng phát triển là hình thành chuỗi nhà máy gần cảng biển, phục vụ các dự án điện gió ngoài khơi lớn tại Vịnh Bắc Bộ. Nguồn điện sạch từ đây cũng có thể cung cấp cho các khu công nghiệp xanh miền Bắc, hỗ trợ hàng hóa xuất khẩu đáp ứng yêu cầu về phát thải carbon của châu Âu. Cụm cảng phía Bắc này học hỏi mô hình Sán Đầu (Trung Quốc), nơi nổi bật về phát triển cụm công nghiệp dựa trên quy mô lớn và chuỗi cung ứng tích hợp. Sán Đầu tuyển chọn 15-20 doanh nghiệp hàng đầu thế giới trong từng khâu để hình thành chuỗi cung ứng điện gió tích hợp "4 trong 1", từ R&D, thiết kế đến sản xuất, logistics, thử nghiệm và chứng nhận. Các doanh nghiệp phối hợp chặt chẽ, dùng chung hạ tầng và đồng bộ quy trình, qua đó rút ngắn thời gian, giảm chi phí và nâng sức cạnh tranh của cả cụm công nghiệp.
Các doanh nghiệp Việt Nam đã có hàng chục năm tích lũy kinh nghiệm
Theo ông Phạm Quý Ngọc, Phòng Khí, Điện và Năng lượng mới, Viện Dầu khí Việt Nam (VPI), Petrovietnam, Việt Nam không bắt đầu từ con số 0 khi bước vào lĩnh vực điện gió ngoài khơi.
Nhiều năng lực được tích lũy qua hàng chục năm trong ngành dầu khí như chế tạo kết cấu thép, xây dựng trạm biến áp ngoài khơi, khảo sát biển, dịch vụ cảng, vận hành tàu và logistics đang được chuyển sang phục vụ các dự án điện gió.
Điển hình, Tổng công ty cổ phần dịch vụ kỹ thuật dầu khí Việt Nam (PTSC), đơn vị thành viên của Petrovietnam, đã thiết kế và chế tạo 4 trạm biến áp ngoài khơi cho các dự án điện gió tại Đài Loan: Hải Long 2 (532 MW), Hải Long 3 (512 MW), Fengmiao 1 (495 MW) và Formosa 4 (495 MW). Mỗi trạm nặng hơn 3.000 tấn, trong khi phần chân đế nặng tới khoảng 8.000 tấn.
PTSC cũng đã chế tạo 33 chân đế dạng cọc hút và 4 trạm biến áp công suất 375 MW cho Ørsted, gã khổng lồ năng lượng của Đan Mạch đang triển khai các dự án lớn tại vùng Biển Bắc.
Việc liên tiếp trúng thầu và thi công thành công các trạm biến áp điện gió cho những dự án từ châu Á đến châu Âu đã minh chứng cho trí tuệ, kỹ thuật và bàn tay tài hoa của người Việt. Doanh nghiệp Việt không chỉ đang thi công những khối sắt thép khổng lồ, mà đã thực sự khẳng định được vị thế trong chuỗi cung ứng năng lượng tái tạo toàn cầu.
Khối thượng tầng của Trạm biến áp Hai Long 2 được hạ thủy thành công và bắt đầu hải trình sang eo biển Đài Loan hồi tháng 4/2024. Ảnh: PTSC
Điểm đáng chú ý là quá trình này có thể tạo ra hiệu ứng kéo ngược từ thị trường quốc tế về Việt Nam. Khi doanh nghiệp trong nước tham gia các dự án nước ngoài, họ tích lũy tiêu chuẩn kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý và năng lực đáp ứng các gói thầu quốc tế. Đây là tiền đề để hình thành chuỗi cung ứng trong nước khi thị trường điện gió ngoài khơi Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mạnh hơn.
Nghiên cứu của Viện Dầu khí Việt Nam cũng chỉ ra rằng, đối với những năng lực mà Việt Nam chưa có được - như chế tạo vỏ tuabin, cánh quạt, cáp ngầm và các tháp chuyển tiếp, Việt Nam cần thu hút FDI và hình thành liên doanh với các nhà cung cấp quốc tế. Cách tiếp cận này vừa tận dụng năng lực sẵn có, vừa tạo dư địa để doanh nghiệp trong nước từng bước nâng tỷ lệ tham gia và tiến lên các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.
Tuy nhiên, trình tự phát triển mới là yếu tố quyết định khả năng nội địa hóa. Theo ông Phạm Quý Ngọc, Việt Nam cần sớm xây dựng danh mục dự án trong nước đủ rõ ràng và có tính chắc chắn cho giai đoạn 2030-2035. Đây sẽ là tín hiệu quan trọng để thu hút các nhà đầu tư quốc tế và thúc đẩy doanh nghiệp trong nước đầu tư theo.