VnExpress Thứ bảy, 7/11/2026
Thứ tư, 16/9/2026, 05:00 (GMT+7)

Vợ chồng nhà khoa học tính đường dài cho cây trái và đất đồng bằng

Huy Thọ

Ở ĐBSCL, có những nhà khoa học cả đời lặn lội với những chuyện tưởng nhỏ nhưng cả triệu nhà nông gặp mỗi ngày. PGS. TS Nguyễn Văn Phong và TS. Nguyễn Thị Ngọc Trúc là một đôi vợ chồng như thế: người lo cứu đất, người lo cứu trái cây.

Vợ chồng PGS. TS Nguyễn Văn Phong và TS. Nguyễn Thị Ngọc Trúc. Thiết kế ảnh: Mỹ Hạnh

"Đôi vợ chồng vàng của nhà nông" - đó là sự tôn vinh của xã hội nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng dành cho hai vợ chồng cùng là GS. TS Bùi Chí Bửu và Nguyễn Thị Lang - hai chuyên gia lớn trong chọn tạo những giống lúa mới.

Đôi vợ chồng này giờ đây đã ngoài thất thập, và đồng bằng sông Cửu Long có thêm một đôi vợ chồng khác đắm đuối nghiên cứu những điều tỉ mỉ sát sườn với người làm nông, đó là PGS. TS Nguyễn Văn Phong và vợ là TS. Nguyễn Thị Ngọc Trúc.

Điều thú vị là PGS.TS Nguyễn Văn Phong là cháu ruột của bà Nguyễn Thị Lang. Nhưng khác với ông bà, hai người cháu không làm nghề chọn giống lúa mà theo đuổi những lĩnh vực mới hơn: công nghệ sau thu hoạch và vi sinh.

Vợ đi cứu đất

Tôi làm quen với TS Nguyễn Thị Ngọc Trúc trong chuyến đi Tràm Chim viết về chuyện trồng lúa sinh thái trong dự án Đưa đàn sếu trở về. Công nghệ vi sinh giải quyết bài toán xử lý rơm rạ của chị đóng vai trò mắt xích vô cùng quan trọng.

Những ai quan tâm đến dự án Một triệu ha lúa giảm phát thải – chất lượng cao mà Việt Nam đang nỗ lực thực hiện, hẳn đều biết một bài toán cực khó giải là xử lý rơm rạ sau thu hoạch. Xử lý kiểu gì cũng dở. Đốt như bao đời nay dẫn đến gây ô nhiễm, phát thải cao, giết chết hết vi sinh có lợi trong đất; rơm cho trâu bò ăn chiếm một tỷ lệ quá nhỏ; làm các sản phẩm gia dụng từ rơm thì chi phí cao; còn để rơm trên ruộng, cây lúa vụ sau sẽ chết do ngộ độc hữu cơ.

Do đồng bằng sông Cửu Long làm ba vụ lúa rất sít sao nên thời gian để xử lý rơm rạ giữa các vụ có khi chỉ khoảng hai chục ngày. Nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Ngọc Trúc dùng vi sinh để thúc đẩy phân hủy rơm ngay trên ruộng. Một tuần sau thử nghiệm, rơm trên ruộng đã phân hủy khoảng 70%, có nơi 90%; tầng đất sâu 20 cm không có mùi của chất hữu cơ bán phân hủy.

Nhà khoa học-doanh nhân Nguyễn Thanh Mỹ khi nghe tôi kể về chế phẩm vi sinh của chị Trúc vừa nghiên cứu và thử nghiệm thành công trong dự án trồng lúa sinh thái ở Tràm Chim, đã nói đầy ngưỡng mộ: "Cô Trúc làm được điều đó quả là tuyệt vời". Thế giới người ta làm vi sinh để biến rơm thành phân hữu cơ nhiều rồi, nhưng tất cả đều xử lý trên mặt đất, tuy có lợi nhưng tốn công. Còn vùi rơm rạ xuống ruộng nước thì cái khó là tìm cho được con vi sinh phù hợp, vừa hoạt động được trong môi trường hiếu khí lẫn yếm khí. "À, mà ngành nghiên cứu về vi sinh người Việt mình không kém thế giới đó nghe!", ông nói thêm.

Nghe tôi kể lại lời nhận xét chúc mừng của ông Mỹ, chị Trúc cho biết thêm, trong hơn 100 dòng vi sinh có lợi mà mình đang sở hữu, có một dòng "hai - phai", vừa yếm khí vừa hiếu khí và xử lý rơm rạ khi chôn vùi xuống ruộng rất nhanh, tạo thành một nguồn dinh dưỡng rất lớn cho ruộng.

TS. Nguyễn Thị Ngọc Trúc thử nghiệm cứu đất bằng các chế phẩm sinh học.

Điều tôi thêm kính trọng chị, đó là theo lẽ thông thường, khi nghiên cứu được một sản phẩm mới mang tính đột phá như thế này, tác giả sẽ có một khoản tiền lớn nếu bán cho các công ty chuyên sản xuất chế phẩm sinh học. Nhưng, chị sẵn sàng biếu không, miễn đơn vị sử dụng công thức của chị cam kết sản xuất quy mô lớn, phục vụ nhà nông với giá rẻ.

Nhiệm vụ chính của TS. Ngọc Trúc ở Viện Cây ăn quả miền Nam trong vai trò trưởng khoa Nông học là nghiên cứu, đào tạo về vi sinh phục vụ cây ăn quả. Nhưng, chị "bao đồng" hơn, ngoài chuyện cây, luôn nghĩ đến chuyện cứu những vùng đất bị bạc màu hoặc ô nhiễm nặng. Giải cứu đất cũng để giải cứu cây, dùng vi sinh sẽ giảm phân hóa học, giảm thuốc trừ sâu.

Cứ nghe nơi nào đất bị ô nhiễm, dù là trồng lúa hay rau màu, chị đều sẵn sàng xắn tay vào. Như hôm ở Tràm Chim, chị "bật mí" xã Long Hưng, Đồng Tháp (trước là Thạnh Phú, Châu Thành, Tiền Giang), nơi trồng các loại rau màu để cung cấp cho thị trường TPHCM, hồi tháng Bảy rau bỗng dưng chết hàng loạt, trước khi chết có hiện tượng lá bị bạc màu, nghi là đất bị ngộ độc clo nặng. "Mình đang xử lý thử nghiệm, có kết quả sẽ báo anh biết".

Ruộng rau màu của nông dân Nguyễn Thanh Liêm ở Ấp Bờ Xe bị nhiễm độc clo, lá bạc màu, cháy gốc và chết dần.

Hơn một tuần sau, chị gọi điện phấn khởi, thông báo ở mảnh ruộng ở Ấp Bờ Xe mà mình xử lý bằng cách tưới nước dấm pha loãng, than sinh học để khử độc, rồi sau đó dùng vi sinh như các dòng Bacillus, Lactobacillus để phun thì cứu được, các luống rau tía tô ở mảnh ruộng thử nghiệm đã phát triển rất tốt.

Nghe chị kể, tôi chạy ngay về tận nơi. Anh nông dân Nguyễn Thanh Liêm, chủ sở hữu mảnh ruộng thử nghiệm, rất vui khi phương pháp xử lý giải độc cho đất của chị Trúc bằng sinh học mang lại kết quả thấy rõ. Các luống rau tía tô của anh đã lên lại khỏe mạnh.

"Đất đai của mình bị khai thác theo kiểu tận thu nên giờ bị bạc màu, rồi lạm dụng hóa học khiến đất bị nhiễm độc, chưa kể nguồn nước cũng có vấn đề", chị Trúc tâm sự. "Nhiệm vụ của người làm khoa học như mình phải tìm ra những công thức tốt cho ruộng đồng, rồi các doanh nghiệp tham gia vào sản xuất chế phẩm sinh học". Riêng khoản này chị rất vui khi nhà nước đã có quy định buộc các công ty sản xuất phân bón phải có ít nhất 20% sản phẩm sinh học chứ không chỉ chăm chăm vào hóa học mà thôi. Việt Nam giờ mới bắt đầu tập trung cho vi sinh để cứu đất chứ ở Nhật người ta còn chuyển qua Enzyme rồi.

Chồng đi cứu... trái cây

Khi tôi xuống thăm đôi vợ chồng khoa học của nhà nông này, PGS. TS Nguyễn Văn Phong rủ tôi đi cùng đến đám giỗ ở nhà của anh bạn, chủ công ty xuất khẩu xoài, thanh long có tiếng ở đồng bằng sông Cửu Long.

Ở đám giỗ, ai ai cũng tay bắt mặt mừng với đôi vợ chồng. Anh Sang, chủ nhà, nói vui: "Không có hai vợ chồng này là mệt lắm!"

Nói đến xuất khẩu trái cây, có lẽ ai trong chúng ta cũng quen với cụm từ "giải cứu": hết thanh long, dưa hấu đến cam, chuối, vải... Ngay cả sầu riêng - được mệnh danh trái cây vua - người trồng và doanh nghiệp xuất khẩu cũng có thể lao đao chỉ vì đối tác siết yêu cầu một chút. Vì vậy, những chuyên gia về công nghệ sau thu hoạch thật vô cùng quan trọng đối với nhà nông.

Ví dụ, muốn xuất khẩu sang thị trường nào, phải nắm rõ công nghệ xử lý sau thu hoạch và các yêu cầu riêng của thị trường đó, như đưa đi Mỹ phải chiếu xạ, và đơn vị chiếu xạ phải do Mỹ cấp phép. Đưa sang Nhật, Hàn, phải xử lý trái cây bằng hơi nước. Còn xuất sang Úc thì cả hai phương pháp...

Khi tôi hỏi, trong tất cả các loại trái cây, việc xử lý loại nào khiến anh nhớ nhất, anh Phong nói ngay: "Trái vải!". Anh kể: "Tôi nhớ cái thuở ban đầu đưa trái vải xuất ngoại, nó khó khăn vô cùng, xông khử trùng bằng khí methyl bromide mà không kiểm soát chặt, vỏ trái vải dễ bị thâm đen hết". Chất lượng trái không ảnh hưởng, nhưng thử nghĩ quả vải thâm đen vỏ làm sao mà đặt lên kệ siêu thị để bán.

Sầu riêng vỏ cứng rắn nhưng bên trong đỏng đảnh dễ chín quá hoặc sượng nên rất cần quy trình xử lý sau thu hoạch.

Theo hướng dẫn của anh, trước hết, phải qua công đoạn làm bất hoạt enzyme gây nâu vỏ bằng cách xông lưu huỳnh nồng độ thấp, kế đến là công đoạn phục hồi màu nâu đỏ cho trái vải đồng thời cũng để loại bỏ hoàn toàn lưu huỳnh, và sau hai công đoạn ấy mới đến khâu xông khử trùng.

Ngồi nghe anh Phong trò chuyện về trái cây thật vô cùng thú vị. Anh bảo: "Trái cây nó như con người vậy đó. Nó cũng sống, cũng thở, cũng đừng xem mặt mà bắt hình dong, nhìn bề ngoài đôi khi vỏ đẹp, láng bóng nhưng bên trong lại ủ bệnh". Và xử lý không phải công ty nào cũng một quy trình giống nhau. Công ty có kho lạnh lớn phải có quy trình khác với công ty có kho lạnh nhỏ. Anh nghiên cứu khoa học thì phải đưa ra được từng quy trình phù hợp cho từng vùng, cho từng quy mô của công ty. Rồi còn phải tính toán thời gian nữa chứ, đi xa phải khác với đi gần. Rồi cả tính toán rủi ro khi hàng chỉ cần chậm một vài ngày thì sao... Phải nói là một nghìn lẻ một sự phức tạp khi xuất khẩu trái cây tươi.

PGS.TS Nguyễn Văn Phong chia sẻ kinh nghiệm về bảo quản trái cây cho xuất khẩu tại một buổi hội thảo kết nôi cung cầu công nghệ tại Đắk Lắk năm 2025.

Nhà khoa học có xử lý được cái "một nghìn lẻ một sự phức tạp" ấy trái cây mới đi xa được. Như trái xoài, thông thường chỉ để được 5-7 ngày. Chở đi xa bằng máy bay thì nhanh nhưng mắc tiền quá, còn đi tàu biển, rẻ hơn rất nhiều nhưng mất đến hàng tuần. Vậy làm sao để quả xoài đủ sức "đi đường dài"? Anh Phong cùng đồng nghiệp ứng dụng công nghệ CA - kiểm soát bầu không không khí quanh trái xoài để làm chậm quá trình hô hấp và chín, giúp giữ xoài tới hơn tháng.

Quả sầu riêng còn khó tánh hơn nữa, bên ngoài gai góc bên trong lại đỏng đảnh, nhạy cảm, dễ chín quá hoặc sượng. Bởi vậy, ngoài quy trình làm khô và làm mát để hạn chế nấm bệnh, các nhà khoa học còn phải tính đến việc khởi động quá trình chín chậm bằng ethylene ngoại sinh, để khi mang ra khỏi kho lạnh, trái chín đồng đều hơn, sầu riêng có thể để được hai - ba tuần.

Nhưng công nghệ sau thu hoạch chỉ giải quyết được một mắt xích. Trái cây muốn đi xa còn phải đi qua cả một chuỗi kiểm soát, từ vùng trồng đến doanh nghiệp xuất khẩu. Tôi hỏi thẳng anh rằng cứ lâu lâu lại nghe trái cây xuất đi Trung Quốc, khi thanh long, khi sầu riêng... bị chặn bởi hàng rào này, hàng rào khác thì bản chất của nó là gì?

Sau thành công với 4,5 ha lúa sinh thái thử nghiệm ở Tràm Chim, mô hình đã mở rộng lên 66 ha. Ngày 10/9/2026, lễ ký kết giữa nông dân-nhà khoa học-doanh nghiệp trong bao tiêu sản phẩm cánh đồng Tràm Chim đã được tổ chức trước sự chứng kiến của ông Lê Minh Hoan, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội. Trong dự án, TS Ngọc Trúc tiếp tục tham gia với vai trò cung cấp chế phẩm vi sinh xử lý rơm rạ.

Anh trả lời: "Tôi là một người làm khoa học, tôi không biết những chuyện sâu xa ngoài phạm vi của mình, nhưng rõ ràng trước tiên chúng ta phải nhìn lại mình trước. Ví dụ, họ yêu cầu đăng ký mã vùng trồng, nhưng trời ơi, theo đăng ký thì diện tích trồng chỉ một, trong khi hàng đưa qua đến 10 thì họ nghi là đúng". Không phủ nhận thực tế là mỗi khi hút hàng, ví dụ trái xoài, một số doanh nghiệp xuất khẩu không uy tín, đi quơ quào khắp nơi để độn vào. Đôi khi chỉ một con sâu thôi, nhưng làm mất uy tín cả làng. Đến độ bây giờ không chỉ kiểm ở cửa khẩu, mà thường ở cửa khẩu chỉ kiểm theo giấy tờ vì nhiều quá mà, người ta làm luôn cả hậu kiểm. Nghĩa là họ đi lấy trái cây ở siêu thị để kiểm, và nếu có vấn đề thì bắt đầu truy ngược lại. "Vì vậy, đi đâu tôi cũng nói các doanh nghiệp là mình trung thực để xây dựng niềm tin với khách hàng", anh kể.

Làm tốt tận gốc, nông nghiệp mới thay đổi bền vững

TS Nguyễn Thị Ngọc Trúc sinh năm 1976 tại Mỹ Tho, tốt nghiệp đại học Cần Thơ ngành nông học rồi về công tác tại Viện nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam. Sau đó, chị được học bổng đi Ấn Độ làm thạc sĩ.

PGS. TS Nguyễn Văn Phong lớn hơn người bạn đời một tuổi, sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân thứ thiệt tại Giồng Trôm, Bến Tre. Ngay từ nhỏ, anh đã giúp ba chăm sóc vườn quýt của nhà, kể cả những việc nặng như móc sình dưới sông rạch để bồi đắp cho vườn. Nhưng, anh Phong lại không thi vào Khoa Nông học, mà lại chọn Khoa Hóa học & Thực phẩm của Đại học Bách khoa TPHCM. Ra trường, anh cũng về công tác tại Viện nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam. Rồi anh được cũng được học bổng đi Ấn Độ làm thạc sĩ.

TS Nguyễn Thị Ngọc Trúc hướng dẫn người nông dân dùng vi sinh để giúp cho cây sầu riêng.

"Anh Phong có học bổng đi trước một năm. Mà nói thiệt nghe, ổng làm cái gì cũng giỏi, trừ chuyện học ngoại ngữ. Vậy là tui làm cô giáo kèm tiếng Anh cho ổng. Mình ngay từ nhỏ đã mê học ngoại ngữ lắm, nên hai thứ tiếng Anh - Pháp đều khá. Thật ra hai đứa cũng để ý nhau từ trước, qua quá trình làm chung", chị Trúc kể.

Nghe vợ kể tới đây, anh Phong xen vào: "Nghề của tui với bả ngày càng gắn bó, vì trái cây muốn cho thật khỏe, thật ngon thì không phải chỉ xử lý sau thu hoạch mà phải làm từ đầu sao cho mọi việc đều đúng chuẩn. Mà từ đầu cho đến khi thu hoạch thì bây giờ việc sử dụng vi sinh là vô cùng quan trọng."

Làm xong thạc sĩ ở Ấn Độ, chị Trúc về nước, làm tiếp tiến sĩ ở Đại học Cần Thơ, còn anh Nguyễn Văn Phong ở lại học lên tiến sĩ.

Ngồi nghe hai vợ chồng nói chuyện về nông nghiệp thật cuốn hút và như không bao giờ dứt, với đủ niềm vui, nỗi buồn và những điều trăn trở. Chị Trúc than: "Mình toàn phải đi giải quyết phần ngọn, khi nghe nơi nào đất bị nhiễm độc thì lao tới, tìm cách xử lý". Nguyên nhân đất nhiễm độc thì nhiều, từ thấp đến cao. Thấp là chuyện người nông dân. Thử tưởng tượng ở các nước, người ta trồng các loại cây có múi như cam, quýt với khoảng cách 6m, còn mình chỉ trồng cách 1m để nhanh có lãi, mà quên rằng trồng dày phải lạm dụng thuốc dẫn đến đất kiệt quệ và cây cũng kiệt quệ. Người ta thu hoạch 20, 30 năm, mình chỉ ba-bốn năm là lụi tàn. Chuyện ở cao thì phát triển công nghiệp mà kiểm soát nước thải không tốt, dẫn đến ô nhiễm nguồn nước, gây nhiễm độc đất. Bao giờ làm tốt tận gốc, nông nghiệp mới thay đổi được một cách bền vững.

TS. Nguyễn Thị Ngọc Trúc trên ruộng rau tía tô đã tốt tươi sau khi khử độc cho đất bằng vi sinh.

Còn PGS. TS Nguyễn Văn Phong thì mơ ước về chuỗi giá trị nông nghiệp "như một sợi xích mà mọi mắt đều phải chắc chắn, ngon lành". Nhưng thực tế sợi xích trong nông nghiệp Việt Nam còn nhiều mắt xích chưa tốt, nên cứ nghe nhiều về những cuộc giải cứu trái cây. Tỷ lệ trái cây đạt chuẩn để xuất khẩu ở Việt Nam còn rất thấp, nên hiệu quả sản xuất không cao. Tôi nhớ một vị rất có điều kiện tham gia làm nông quy mô lớn, đã mời hai vợ chồng đi tham quan đồn điền của ông. Anh kể, tham quan xong, hai anh chị thấy "có quá nhiều vấn đề, từ người làm công thấp nhất trở đi. Ví dụ, họ xịt thuốc quấy quá nên không hiệu quả, thậm chí còn làm cho sâu lờn thuốc. Đội ngũ quản lý cấp trung thì nhập phân bón quá đát, chỉ vì nó rẻ! Kết quả, trái cây đủ chuẩn để xuất khẩu chỉ đạt có 30%. Vị ấy mời hai vợ chồng tôi về làm hẳn cho đồn điền..."

Và anh chị đồng ý?

"Không. Chúng tôi về đó thì có thu nhập cao, nhưng chỉ làm cho mỗi mình ông ấy, còn ở Viện, chúng tôi làm được nhiều cho nhà nông", cả đôi vợ chồng vàng cùng quan điểm!