Tháp Rùa và xung đột của những hệ biểu tượng trong thời thuộc địa
Khoảng cuối thế kỷ XIX, Tháp Rùa xuất hiện trên một gò nhỏ giữa hồ. Sự ra đời của Tháp Rùa bổ sung thêm một lớp biểu tượng quan trọng cho cảnh quan Hồ Gươm. Nếu đền Ngọc Sơn và Tháp Bút hướng người nhìn về phía văn hiến, học vấn và khoa cử, thì Tháp Rùa lại hướng ký ức về một quá khứ xa hơn: một vùng đất từng là trung tâm của quyền lực đế đô. Tháp Rùa vì thế dần trở thành một dạng "vật chứng" của ký ức, nhắc nhớ người ta về thời Thái Tổ, Thái Tông và văn trị Nho giáo.
Đặc biệt, trong thời kỳ Pháp thuộc, khu vực này chứng kiến sự va chạm trực tiếp giữa những biểu tượng của nền văn minh thuộc địa và những biểu tượng lịch sử bản địa. Việc một phiên bản nhỏ của tượng Nữ thần Tự Do được đưa đặt trên Tháp Rùa đã tạo nên sự chấn áp của quyền lực cai trị.
Trong ký ức dân gian Hà Nội, tượng được gọi là "Bà Đầm Xòe". Cái tên dân gian này bản thân nó đã là một hành động Việt hóa biểu tượng ngoại lai. Một biểu tượng được tạo ra ở phương Tây để nói về tự do, nhưng khi xuất hiện trong một thành phố đang chịu sự cai trị thuộc địa, nó trở thành một phần của cấu trúc quyền lực thuộc địa, gắn với diễn ngôn "khai hóa văn minh", cho chính sách khai thác thuộc địa của Pháp; đồng thời nó cũng thể hiện những phản diễn ngôn và sự phản kháng chống lại ách đô hộ. Do đó, Tháp Rùa trong thời kỳ này có thể được đọc như một không gian tranh chấp biểu tượng. Một bên là ký ức về Rùa thần, Lê Lợi, Thiên mệnh, độc lập và lịch sử Thăng Long. Một bên là biểu tượng phương Tây được đưa vào như dấu hiệu của một trật tự quyền lực được bảo hộ bởi Mẫu quốc.
Tượng bà đầm xòe trên đỉnh Tháp Rùa. Ảnh: CC
Và cũng chính trong thời điểm này, đền Ngọc Sơn trong vai trò của một thiện đàn Phật giáo, đã đưa tượng Trần Hưng Đạo vào hệ thống thần điện của những anh hùng vệ quốc [1], với đôi câu đối Nôm: "Võ lược luyện hùng binh, Lục Thủy ngàn thu ghi sử Việt; Văn Tài mưu thượng tướng, Bạch Đằng một trận thắng quân Nguyên" [2]. Lần đầu tiên, biểu tượng vệ quốc được kiến tạo ngược lên đến tận triều Trần.
Quốc gia độc lập và sự thay đổi của hệ biểu tượng
Năm 1945 đánh dấu một bước ngoặt quyết định. Khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, hệ thống biểu tượng thuộc địa cũ không còn phù hợp với một quốc gia vừa giành được độc lập. Tượng "Bà Đầm Xòe" được hạ giải và đưa khỏi Tháp Rùa, về khu vực Cửa Nam. Sau đó, trong những biến động của cuộc kháng chiến chống Pháp, bức tượng bị tiêu hủy. Nó là hành động tái cấu trúc không gian biểu tượng của đô thị. Tháp Rùa trở lại với một cách đọc khác. Nó được đặt trở lại trong mạch ký ức về lịch sử dân tộc. Từ đây, câu chuyện Hồ Gươm tiếp tục được viết lại. Thanh kiếm của Lê Lợi, Rùa thần, Tháp Rùa và ký ức về cuộc đấu tranh chống ngoại xâm được kết nối với nhau thành một hệ thống biểu tượng ngày càng chặt chẽ.
Từ năm 1954, Hồ Gươm trở thành "trái tim" của Hà Nội. Sau năm 1954, Hồ Gươm bước vào một giai đoạn kiến tạo biểu tượng mới. Trong nhận thức xã hội, hồ không còn chỉ là một thắng cảnh. Nó trở thành trung tâm ký ức của Hà Nội. Tháp Rùa trở thành hình ảnh gần như không thể tách khỏi Hồ Gươm. Nó được đọc như biểu tượng của lịch sử chống ngoại xâm, của truyền thuyết hoàn kiếm và của sự trường tồn của quốc gia dân tộc. Hồ Gươm đồng thời trở thành một biểu tượng của Hà Nội. Từ "trái tim của Thủ đô" dần trở thành một cách gọi giàu sức gợi: Hồ Gươm ở trung tâm Hà Nội, còn Hà Nội lại được hình dung như một trong những trung tâm tinh thần của đất nước: linh thiêng và hào hoa, hào hùng và trí tuệ.
Đặc biệt, trong hệ thống biểu tượng quốc gia hiện đại, Tháp Rùa, Khuê Văn Các và Chùa Một Cột thường được nhìn nhận như ba hình ảnh tiêu biểu cho Việt Nam ngàn năm văn hiến. Ba hình ảnh này tạo thành một cấu trúc biểu tượng đáng chú ý: Tháp Rùa đại diện cho lịch sử, ký ức và tinh thần chống ngoại xâm; Khuê Văn Các đại diện cho văn chương, khoa cử và Đạo học; Chùa Một Cột đại diện cho chiều sâu Phật giáo và đời sống tâm linh của đất Thăng Long ngàn năm văn vật. Nếu ghép ba biểu tượng ấy lại, ta có một hình ảnh khá đầy đủ về một Hà Nội/Việt Nam vừa anh hùng, văn hiến vừa có chiều sâu tâm linh.
Tháp Bút. Ảnh: Bùi Thụy Đào Nguyên/CC BY-SA 3.0
Mỗi người đến Hồ Gươm có thể cùng lúc đọc nhiều câu chuyện khác nhau. Người nghiên cứu lịch sử đọc câu chuyện Lê Lợi. Người học văn đọc Tháp Bút, Đài Nghiên. Người hành hương, và học trò tìm đến đền Ngọc Sơn. Người quan tâm đến kiến trúc nhìn thấy sự giao thoa giữa đình, đền, chùa, nhà thờ, nhà hát và kiến trúc đô thị thuộc địa. Người Hà Nội lại có thể chỉ đơn giản nhìn thấy một không gian của ký ức tuổi thơ, lễ hội, những cuộc gặp gỡ và đời sống đô thị. Đó chính là sức mạnh của một biểu tượng lớn: nó không có một nghĩa duy nhất, mà chồng lớp các nghĩa văn hóa của nhiều thế hệ.
Kiến tạo biểu tượng và vốn văn hóa
Ngày nay, vấn đề đặt ra không phải là làm thế nào để tạo thêm một biểu tượng thật lớn cho Hồ Gươm. Quan trọng hơn là làm thế nào để nhận diện, bảo tồn và phát huy hệ thống vốn văn hóa - vốn biểu tượng đã tích tụ quanh hồ qua bao biến thiên của lịch sử.
Khái niệm "vốn văn hóa" ở đây cần được hiểu theo nghĩa rộng. Đó là tổng hòa của di tích, huyền thoại, ký ức, nghi lễ, tín ngưỡng, nhân vật lịch sử, tri thức, nghệ thuật, kiến trúc, cảnh quan và những thực hành xã hội đã được cộng đồng tích lũy qua nhiều thế hệ. Còn "vốn biểu tượng" là khả năng những giá trị ấy tạo ra ý nghĩa, niềm tin, sự nhận diện và sức hấp dẫn cho Hà Nội.
Nếu chỉ tập trung vào Tháp Rùa mà bỏ qua những di tích xung quanh, chúng ta sẽ làm nghèo Hồ Gươm. Bởi Tháp Rùa chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó nằm trong mạng lưới biểu tượng rộng lớn. Ở phía Bắc và Đông Bắc của hồ là đền Ngọc Sơn với cầu Thê Húc, Tháp Bút, Đài Nghiên - một chỉnh thể của văn chương, học vấn và tín ngưỡng. Đền Bà Kiệu bổ sung lớp ký ức về tín ngưỡng dân gian và đời sống tâm linh của cộng đồng đô thị. Đình Nam Hương gắn với cấu trúc làng nghề - phố nghề và tín ngưỡng Thành hoàng. Đền Vũ Thạch là một điểm nối khác của ký ức tôn giáo - dân gian trong khu vực. Chùa Bà Đá lại đặc biệt quan trọng bởi đây là một không gian Phật giáo có chiều sâu lịch sử, một "chốn tổ" cần được đặt đúng vị trí trong bản đồ văn hóa của khu vực Hồ Gươm.
Sự hiện diện của Nhà thờ Lớn lại mở ra một lớp ký ức khác: lịch sử Kitô giáo và kiến trúc thuộc địa, cho thấy Hà Nội không phải một không gian văn hóa đơn tuyến mà là nơi nhiều truyền thống tín ngưỡng và văn hóa đã gặp gỡ, đối thoại và đôi khi xung đột.
Xa hơn về phía Nam là Nhà hát Lớn và không gian kiến trúc Pháp, tạo nên một trục kết nối Hồ Gươm với khu phố Pháp và lịch sử hiện đại của Hà Nội. Đền và tượng đài Vua Lê lại đưa ký ức về nhà Lê trở về gần trung tâm hồ, làm cho huyền thoại hoàn kiếm không chỉ tồn tại trong văn chương mà còn được neo giữ trong không gian vật chất.
Đền bà Kiệu thời Pháp. Ảnh: TTLTQGI
Như vậy, khu vực Hồ Gươm thực chất là một bảo tàng lịch sử ngoài trời, nhưng là một bảo tàng đặc biệt: không có một lối kể duy nhất, nó đa thanh và phức điệu. Ở đây có Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo, tín ngưỡng dân gian, Thiên Chúa giáo; có ký ức vương triều, khoa cử, thương nghiệp, thuộc địa, cách mạng và đời sống đô thị hiện đại. Có đình, đền, chùa, nhà thờ, nhà hát, tượng đài, tháp, cầu và mặt nước. Tất cả cùng tồn tại trong một không gian đô thị vừa thiêng vừa gần gụi. Chính sự đa tầng ấy mới là vốn biểu tượng quý giá nhất của Hồ Gươm.
Quy hoạch Hồ Gươm là quy hoạch ký ức
Từ góc độ quy hoạch, điều cần tránh là biến Hồ Gươm thành một "công viên cảnh quan đẹp - hiện đại" nhưng bị tách khỏi lịch sử. Cũng cần tránh thái cực ngược lại: biến khu vực thành một "bảo tàng cứng nhắc, nơi mọi công trình chỉ được nhìn như cổ vật, hay điểm tập kết của các tượng đài. Hồ Gươm phải tiếp tục là một không gian sống. Do đó, quy hoạch tương lai cần dựa trên nguyên tắc bảo tồn hệ thống các lớp văn hóa và lịch sử thay vì bảo tồn từng vật thể đơn lẻ. Không chỉ bảo tồn Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn hay một công trình cụ thể, mà phải bảo tồn mối quan hệ không gian và ý nghĩa giữa chúng.
Cần xây dựng một "bản đồ vốn biểu tượng" của Hồ Gươm, trong đó xác định rõ các lớp: Lớp Thiên mệnh và độc lập dân tộc: Lê Lợi - thanh kiếm - Rùa thần - Tháp Rùa - đền Vua Lê - và tín ngưỡng thờ Trần Hưng Đạo tại Ngọc Sơn. Lớp văn hiến và khoa cử: đền Ngọc Sơn - Văn Xương Đế quân - Khôi Tinh - Tháp Bút - Đài Nghiên. Lớp tín ngưỡng dân gian: đền Bà Kiệu - đình Nam Hương - đền Vũ Thạch và các không gian thờ tự liên quan. Lớp Phật giáo: chùa Bà Đá và mạng lưới chùa chiền trong khu vực. Lớp Kitô giáo và giao lưu văn hóa: Nhà thờ Lớn. Lớp hiện đại và thuộc địa: Nhà hát Lớn, khu phố Pháp và các dấu tích kiến trúc châu Âu. Lớp ký ức cách mạng và quốc gia hiện đại. Lớp đời sống đương đại của người Hà Nội. Và một lớp cuối cùng còn thiếu: lớp văn hóa Lý - Trần. Nếu được, thì có thể là một công trình phục dựng Đại Thắng Tư Thiên Bảo tháp phong cách thời Lý, biểu tượng cho ngàn năm lịch sử của Thăng Long- Đông Đô - Hà Nội.
Người dân ngồi hóng mát bên hồ Hoàn Kiếm. Ảnh: Tuan Phan/Pexels
Từ bản đồ ấy, có thể hình thành một hệ thống diễn giải công cộng thông minh: biển thông tin, bảo tàng số, trình chiếu ánh sáng có kiểm soát, ứng dụng tương tác, các tuyến đi bộ theo chủ đề, chương trình giáo dục di sản cho học sinh và những không gian kể chuyện bằng âm thanh, hình ảnh. Công nghệ chỉ nên giúp con người đọc được những gì vốn đã tồn tại trong ký ức của nơi này.
Biểu tượng mới không nhất thiết phải là một công trình mới. Trong thế kỷ XXI, "kiến tạo biểu tượng" không nhất thiết đồng nghĩa với việc xây thêm một tòa tháp, một quảng trường hay một tượng đài. Biểu tượng mới có thể là một cách kể mới: một Hà Nội xanh, một Hà Nội của ao hồ, một Hà Nội sinh thái, một thành phố trong sông. Hồ Gươm có thể trở thành biểu tượng của một đô thị có khả năng gìn giữ nhiều lớp lịch sử mà không phủ nhận nhau. Cách tiếp cận ấy giúp vượt qua một tư duy nhị nguyên: cái này là "ta", cái kia là "ngoại lai"; cái này là "cổ", cái kia là "mới". Bảo tồn Hồ Gươm hôm nay cũng chính là bảo tồn khả năng đối thoại của các lớp ký ức, các lớp diễn ngôn và các tầng biểu tượng.
***
Quá trình kiến tạo biểu tượng của Hồ Gươm có thể được nhìn như một hành trình dài từ quyền lực đến văn hiến, từ đế đô đến ký ức đô thị, từ biểu tượng thuộc địa đến biểu tượng quốc gia, và từ một biểu tượng đơn nhất đến một hệ sinh thái biểu tượng đa tầng. Nhưng tương lai của Hồ Gươm không nên được xây dựng bằng cách đóng khung nó trong một hình ảnh bất biến. Một biểu tượng sống phải có khả năng tiếp nhận những lớp nghĩa mới. Vì vậy, kiến tạo biểu tượng Hồ Gươm trong thời đại mới trước hết phải là kiến tạo một hệ sinh thái văn hóa. Trong hệ sinh thái ấy, Tháp Rùa không đứng một mình. Nếu Tháp Rùa là "điểm nhấn kiến trúc" giữa mặt nước, thì toàn bộ không gian quanh Hồ Gươm là một trường thiên của lịch sử Hà Nội. Đó chính là vốn biểu tượng lớn nhất của Hồ Gươm.
[1] Vũ Thế Khôi, (2008), "Về việc phụng thờ Đức Thánh Trần ở đền Ngọc Sơn - Hà Nội", Xưa & Nay, số 321, 12.
[2] Trần Trọng Dương, (2016), Lý thuyết và thực hành chữ Nôm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.112.