Năm 2024, khi suy nghĩ cho dự án Cung Thiếu Nhi Hà Nội: Hoài niệm cho tương lai thuộc Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội, tôi đã ngỏ lời mời nghệ sĩ Ngô Thành Bắc và kiến trúc sư Phạm Kiên cùng hiện thực hóa một số hình vẽ trong tập phác thảo Những mộng tưởng kiến trúc (tên gốc: Architectural Fantasies) của Vũ Dân Tân (1946 - 2009).
Kết quả là những khối hình quá khổ người ra đời, chúng nằm rải rác, sừng sững trong sân, vắt vẻo trên mái hiên, nghịch ngợm dọc hành lang các tòa nhà. Với tôi, các bức phác thảo của ông tựa những ghi chép về một vùng đất của tự do và tưởng tượng, chờ đợi được khám phá.
Một hình vẽ trong tập phác thảo Những mộng tưởng kiến trúc được triển khai tại Lễ hội Thiết kế sáng tạo Hà Nội 2024. Ảnh: Đỗ Thế Quang/Sáng kiến Sáng tạo cùng sách thiếu nhi ICBC
Không nhiều nghệ sĩ cho phép sự "tham gia" của những người thực hành khác vào không gian sáng tạo của mình. Ngôn ngữ sáng tạo của Vũ Dân Tân, ở phương diện nào đó, là một lễ hội của những nghi lễ phóng túng, mời gọi sự tham dự của mỹ thuật, văn thơ, âm nhạc, diễn xướng, sân khấu.
Không cầu kỳ, hoành tráng, ông khởi hành với vốn liếng là những trầm tích thẩm mỹ, chỉ dấu thị giác, vật liệu, vật phẩm có sẵn. Đôi bàn tay khéo tựa một người nghệ nhân dân gian liên tục cắt ghép (tạm dịch từ collage), phá đi hình hài cũ bằng toàn bộ sự lém lỉnh, tinh nghịch và sắc sảo của một trí thức Hà Nội. Chính trong những thao tác tưởng chừng vô vi ấy, Vũ Dân Tân đã để lại dấu vết, bỏ ngỏ cho người khác bước vào thế giới của mình, một lễ hội mộng tưởng.
Người di chuyển giữa các dòng chảy văn hóa
Sinh ra tại Hà Nội trong một gia đình yêu văn hóa nghệ thuật, Vũ Dân Tân là con trai của nhà viết kịch Vũ Đình Long (1896 - 1960), người được cho là đặt nền móng cho kịch nói Việt Nam, đồng thời là chủ nhà in/nhà xuất bản Tân Dân, địa điểm quan trọng đối với văn đàn và độc giả Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX. Bầu không khí văn hóa của gia đình đã vun đắp cho tình yêu văn chương, âm nhạc của Tân, đồng thời trang bị cho ông nền tảng văn hóa vững chãi, ảnh hưởng đến những theo đuổi sáng tạo sau này.
Khác với nhiều nghệ sĩ đồng nghiệp, Vũ Dân Tân không được đào tạo chính quy trong lĩnh vực nghệ thuật. Thời niên thiếu, ông theo học họa sĩ Ngô Mạnh Quỳnh (1917 - 1991), người đã truyền dạy cho ông kỹ thuật hội họa cơ bản. Tuy nhiên, khi thành niên, Vũ Dân Tân không theo đuổi hội họa chuyên nghiệp mà học ngoại ngữ, tiếp tục nuôi dưỡng đam mê sâu sắc đối với văn thơ cũng như âm nhạc cổ điển.
Vũ Dân Tân chơi piano trong phòng trưng bày của ông trên phố Hàng Bông, Hà Nội, vào năm 2008. Ảnh: Wikipedia
Năm 1973, trong 9 tháng tham gia chương trình giao lưu nghiệp vụ giữa các nước xã hội chủ nghĩa tại La Havana, Cuba, Vũ Dân Tân đã có nhiều trải nghiệm sân khấu cổ điển phương Tây. Âm hưởng của opera, vũ kịch có thể coi là một trong những dòng chảy ngầm len lỏi một cách xuyên suốt hành trình sáng tác của ông.
Đối với nhiều người coi trọng đào tạo chính quy, Vũ Dân Tân chưa hoàn toàn được nhìn nhận như một nghệ sĩ thực thụ mà chỉ như một nhân vật văn nghệ. Tuy vậy, vị trí "kẻ ngoại đạo" của giới nghệ thuật thực chất lại là thế mạnh cho chính thực hành của Tân, khi các thao tác sáng tác của ông không bị chi phối bởi niêm luật hội họa trường quy, cũng như không bị tác động bởi ngôn ngữ mỹ thuật thịnh hành thời bấy giờ.
Điều này không có nghĩa là Vũ Dân Tân hoàn toàn độc lập khỏi ngôn ngữ tạo hình vốn có, bởi lẽ ta thấy ông vẫn làm mặt nạ, theo đuổi các chủ đề tĩnh vật, tự họa, khỏa thân. Tuy nhiên, khi không bị gò bó bởi khuôn khổ kỹ thuật và lối kể chuyện cứng nhắc xuất phát từ giáo trình sư phạm hàn lâm, Vũ Dân Tân tung tẩy trong việc "tháo dỡ" các cấu trúc hình thức và ý nghĩa truyền thống, kết hợp biểu tượng, chơi đùa với vật liệu để chúng trở nên phù hợp và bổ nghĩa cho những suy nghĩ của mình.
Chính cách xử lý hình ảnh này của Vũ Dân Tân khiến các tác phẩm của ông dễ được nhìn nhận bằng nhãn quan của nghệ thuật hậu hiện đại và đương đại phương Tây. Mặt khác, các tác phẩm của ông vẫn tạo sự gần gũi với cảm thức thẩm mỹ bản địa nhờ biểu cảm vật liệu, nhờ nhịp điệu tạo hình mang âm hưởng của nghệ thuật dân gian.
Sự di chuyển đầy tự nhiên giữa các dòng chảy văn hóa của Vũ Dân Tân không chỉ thể hiện ở cách xử lý hình thái mà còn trong chính các nghệ danh mà ông linh hoạt sử dụng. Như một nhân vật bí ẩn mang nhiều mặt nạ khác nhau, ta thấy lúc tác giả ký tên là Vũ Dân Tân, khi lại Fou Dan Tan, cũng có lúc là Amadeus Dan Tan,... Không ngẫu hứng mà có chủ đích, việc đề danh hay tự họa mình trong lớp áo của các nhân vật kinh điển - lúc tựa gã hề cung đình khi lại như chàng Don Quixote mơ mộng - góp phần làm hiển lộ nhu cầu không khuôn định mình trong bất cứ ranh giới nào của Vũ Dân Tân.
Điều này khiến tôi nhớ tới điển tích về triết gia Hy Lạp Diogenes, khi được hỏi ông đến từ đâu, nhà hiền triết đã đáp rằng ông là công dân của thế giới. Sự du hành xuyên biên giới văn hóa của Vũ Dân Tân đã thực sự minh chứng cho việc ông là một cư dân của toàn cầu.
Tái chế - tận dụng hay kiệt cùng sáng tạo?
Mặc dù Vũ Dân Tân chủ yếu được biết đến qua một vài series sau này (sáng tác vào những năm 2000) như Hành trang của kẻ hành hương (tên gốc: Suitcases of a Pilgrim) hay Vệ nữ (tên gốc: Venus), phổ sáng tác của ông, trên thực tế, vô cùng đa dạng và bền bỉ.
Trong phạm vi bài viết này, bất cứ nỗ lực nào để tóm lược thực hành sáng tạo của Vũ Dân Tân đều là bất khả. Do đó, tôi muốn tập trung rọi vào cách ông ứng xử và thao tác với vật liệu sẵn có - đôi khi là vật phẩm tủn mủn của đời thường, khi khác là trích xuất biểu tượng và đối chiếu xuyên văn bản - như một bộ tín hiệu, giúp định hình logic thẩm mỹ và tạo hình của ông.
Giai đoạn đầu của thực hành (thập niên 1980), bên cạnh niềm đam mê đối với việc làm mặt nạ, Vũ Dân Tân còn thường xuyên vẽ trên giấy dó hoặc giấy báo. Trong thời kỳ này, tranh của ông xuất hiện các mô-típ chủ đạo như tiên nữ, khỏa thân, tĩnh vật và cả hình ảnh những chiếc mặt nạ.
Tới thập niên 1990, Vũ Dân Tân bắt đầu thực hiện series xoay quanh chủ đề cờ phướn trong các lễ hội dân gian. Đây là bước ngoặt, đánh dấu sự chuyển hướng sang hình thức biểu đạt trừu tượng hơn của ông. Lấy cờ hội - hay khái quát hơn là không khí lễ hội - làm nguồn cảm hứng ban đầu, ông thực chất đã "đập" đi cấu trúc hình ảnh tả thực, tinh gọn chúng thành các nét và "lắp ráp" chúng trên mặt phẳng, đề xuất một cách nhìn khác về không gian kiến trúc của đền chùa hay về cảm thức của sự thiêng trong văn hóa bản địa.
Một tác phẩm trong series Cờ hội, 1993, màu gouache trên giấy báo. Nguồn: Asia Art Archive
Sẽ là dễ dãi khi cho rằng việc làm này là một cách để định vị xuất thân của người nghệ sĩ, thu hút sự chú ý từ giới nghệ thuật ngoài nước.
Jeffrey Hantover - một cây viết làm việc với nhiều nghệ sĩ Việt Nam giai đoạn cuối những năm 1980, đầu 1990 - cho rằng Vũ Dân Tân ý thức được cách những người tiền nhiệm và những tác giả đương thời sử dụng vốn cổ như một hình thức miêu tả không khí dân gian. Thực vậy, cách xử lý tạo hình của ông không củng cố thêm hình ảnh một Việt Nam vốn quen thuộc trong mắt quốc tế. Ông chọn cách bóc tách vật thể ra khỏi chức năng và định hình cố hữu của chúng, tái hiện trong cấu trúc mới cởi mở hơn, không neo vào sự chỉ dấu tới một lớp nghĩa cụ thể. Thông qua phương thức đó, Vũ Dân Tân cho phép nhiều cách diễn giải khác nhau về tác phẩm được tồn tại, một sự tách rời khỏi quan niệm nghệ thuật giai đoạn trước, vốn được nhận diện như một dạng phương tiện truyền đạt ý nghĩa.
Cùng với giấy dó và giấy báo, Vũ Dân Tân đã sớm sử dụng những chất liệu vốn được cho là phi-hội-họa như mây tre, gáo dừa, hộp thuốc lá, bìa carton,... Vợ ông - Natalia (Natasha) Kraevskaia - luôn nhấn mạnh rằng Vũ Dân Tân dường như ám ảnh với việc sử dụng hoặc tái chế các vật dụng hằng ngày. Ông không phải là nghệ sĩ duy nhất sử dụng các chất liệu này. Chẳng hạn, Thành Chương từng có một series vẽ trên tạp chí và báo giấy (cuối những năm 1970 và 1980); còn Đặng Xuân Hòa và Hà Trí Hiếu cũng thường vẽ lên mặt bao thuốc lá, trang lịch, vỏ chai rượu. Tuy nhiên, Vũ Dân Tân không đơn thuần sử dụng các vật dụng có sẵn này như chất liệu sáng tác trong giai đoạn khan hiếm họa phẩm. Ông chủ đích đưa chúng vào tác phẩm như một cách tạo ra cuộc đối thoại với bối cảnh và tính chất của vật liệu, coi chúng như một thành tố bổ trợ cho suy tư của ông về quang cảnh xã hội.
Rùa (chuỗi Hành trang của kẻ hành hương), 2006, giấy carton tái chế, màu bột, mực tàu, hộp gỗ có nắp kính, kích thước 30 x 40 x 6 cm. Tác phẩm thuộc Bộ sưu tập Nguyễn Art Foundation.
Sở thích của Vũ Dân Tân đối với các chất liệu dễ kiếm, rẻ tiền không thuần túy do chúng sẵn có mà còn là một nỗ lực của ông nhằm đặt câu hỏi về cái gì có thể được coi là nghệ thuật. Ra đời vào đầu những năm 1990, series Hành trang của kẻ hành hương phản ánh đam mê dai dẳng của Vũ Dân Tân trong việc biến hóa chất liệu khiêm tốn của đời sống thường nhật thành những cấu trúc nghệ thuật mang tính trò chơi hóm hỉnh nhưng đầy tự do và chất thơ về cuộc sống bình dị.
Gồm những tạo hình điêu khắc nhỏ - mặt nạ, côn trùng, những hình thù kỳ ảo - loạt tác phẩm này được cắt dán, vẽ tay, in lên bao thuốc lá, vỏ kẹo và các loại bao bì của hàng hóa gia dụng. Chúng được đặt trong những chiếc hộp bán hàng xén, mường tượng như hành lý của một kẻ du ngoạn. Mỗi chiếc vali chất chứa một sân khấu tí hon, vừa nặng nhọc lại nhẹ tênh, nơi dấu vết vật chất của nền văn hóa tiêu dùng được phù phép thành những cảnh sắc hồn nhiên.
Tác phẩm trong loạt sáng tác mang tên Amazon đang trưng bày tại Bảo tàng Vũ Dân Tân. Ảnh: Hoàng Nguyễn/Bảo tàng Vũ Dân Tân
Sân khấu của thời đại
Vũ Dân Tân ít khi bình luận về tính xã hội trong các tác phẩm của ông. Tuy vậy, từng loạt tác phẩm đều thấm nhuần không khí đương thời, suy tư về một xã hội đang trong giai đoạn chuyển mình, nơi hệ giá trị và thẩm mỹ liên tục được tái kiến thiết.
Trong loạt sáng tác mang tên Tiền tệ (tên gốc: Money) kéo dài từ những năm 1990 xuyên suốt những năm 2000, vào thời khắc Việt Nam và cả thế giới đang dò dẫm bước sang một thiên niên kỷ mới với đầy đủ hứng khởi cũng như hoang mang, ông đã tạo ra những đồng tiền dành cho mọi thời đại. Vũ Dân Tân vẽ tay tỉ mỉ trên giấy những ký hiệu tiền tệ, mệnh giá xen kẽ với chân dung và tên của các nhân vật trong thần thoại, văn chương, tôn giáo và lịch sử hiện đại, mô phỏng hình thức của một tờ tiền thông thường. Những nhân vật xuất hiện bao gồm nhưng không chỉ giới hạn trong các nhân vật hư cấu như Helen của thành Troy, Leda, Mary Magdalene, Dulcinea del Toboso, Carmen, Esmeralda, Lara trong Bác sĩ Zhivago, Leonora trong Trovatore của Verdi, Rhea Silvia, cho tới cả Hoàng đế Napoleon hay vua hề Charlie Chaplin.
Trên bề mặt tưởng chừng như ngẫu hứng và hỗn độn của những đồng tiền ấy, Vũ Dân Tân đã kiến tạo một thế giới không tưởng, thế giới của chung. Ở đó, ký ức văn hóa, những nhân vật nuôi dưỡng cho trí tưởng tượng của nhân loại qua nhiều thế kỷ trở thành biểu tượng gắn kết, giá trị thực chất của đồng tiền là vẻ đẹp mong manh chứ không nằm ở giá trị con số chúng đang biểu thị.
Trên một số đồng tiền, tuyên ngôn "The Beauty will save our World" (Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới) hiện lên như một biểu ngữ. Đó dường như vừa là lời khẳng định quả quyết, vừa như một cảnh báo đầy trăn trở: rằng vẻ đẹp – cũng như nghệ thuật và ký ức – luôn là điều cứu rỗi con người, nhưng cũng mong manh, dễ tan biến trước sức mạnh của đồng tiền và thời gian.
Chuỗi tác phẩm Tiền tệ. Euros - Những người đẹp (tên gốc: Money. Euros – Beauties), 1998-1999, sơn acrylic, mực tàu, màu trắng tổng hợp trên giấy, 10 x 21 cm/ tấm. Tác phẩm thuộc bộ sưu tập Nguyễn Art Foundation.
Nhìn lại bối cảnh Việt Nam khi đó, phải chăng Vũ Dân Tân đã dựng lên một vở kịch lớn về thời đại khi ông hiên ngang nhìn vào các giá trị của thời Mở cửa ngược xuôi, nhộn nhạo bằng con mắt hài hước và lý tưởng?!
Từ Salon Natasha tới Bảo tàng Vũ Dân Tân
Năm 1990, ông cùng vợ sáng lập Salon Natasha tại phòng khách của gia đình – không gian nghệ thuật hướng tới các hoạt động thể nghiệm tại Hà Nội.
Salon Natasha đã trở thành một hiện tượng tiên phong: một diễn đàn độc lập dành cho thực hành nghệ thuật thử nghiệm, đa ngành và phi thương mại. Với diện tích khiêm tốn nhưng ấm cúng và cởi mở, căn nhà ở phố Hàng Bông là nơi gặp gỡ, đối thoại giữa các nghệ sĩ, trí thức và công chúng, góp phần định hình bản sắc của nghệ thuật đương đại miền Bắc Việt Nam giai đoạn hậu Đổi mới.
Không gian ấy cũng là nơi bao nhiêu giá trị vô hình đã đọng lại. Người vẫn gìn giữ di sản đó và hiểu hơn ai hết ý nghĩa của việc chia sẻ chúng với một cộng đồng rộng lớn hơn chính là Natasha. Sau nhiều năm ấp ủ, bà cùng con gái Nhusha đã phối hợp với người bạn vong niên, giám tuyển Iola Lenzi và KTS Hoàng Lê, để thai nghén bảo tàng nghệ thuật mang tên Vũ Dân Tân.
Bảo tàng ba tầng tọa lạc trên chính khu đất từng là xưởng làm việc của nghệ sĩ Vũ Dân Tân ở Long Biên. KTS Hoàng Lê đã vô cùng khéo léo trong cách anh tiếp biến xử lý điêu khắc của Vũ Dân Tân: khối nhà răng cưa nhấp nhô, nghịch ngợm trên triền đê, không gian thoáng ở mỗi tầng, các điểm nhìn xuyên tầng, chéo góc trong khuôn viên tòa nhà,... đều mang màu sắc của sự chơi đùa trong xử lý rỗng/đặc của cố nghệ sĩ.
Bảo tàng Vũ Dân Tân có hình dáng một khối nhà răng cưa. Ảnh: Chimnon Studio/Bảo tàng Vũ Dân Tân
Triển lãm "chào sân" của Bảo tàng do giám tuyển, TS. Iola Lenzi thực hiện. Bà là người bền bỉ nghiên cứu, theo dõi và nỗ lực giới thiệu thực hành của Vũ Dân Tân suốt ba thập kỷ qua. Vì hạn chế về mặt không gian, triển lãm không thể trưng bày toàn bộ di sản của Vũ Dân Tân và do đó, chưa giải quyết được triệt để việc giới thiệu với khán giả ông là ai, đâu là cá tính sáng tạo đặc trưng của ông.
Sự thiếu vắng một mảng miếng nghịch ngợm hay sự ngồn ngộn tung tẩy cũng khiến những người biết ông và từng ghé Salon Natasha có chút tiếc nuối.
Ở một mặt khác, quyết định giới thiệu một triển lãm "kiệm lời" là một phần trong chiến lược lâu dài của đội ngũ Bảo tàng? Phải chăng giám tuyển không muốn định hình nghệ sĩ trong một chiếc khuôn mà muốn từ tốn giới thiệu với khán giả thủ đô về phổ sáng tạo rộng lớn của ông?
Không gian trưng bày bên trong bảo tàng. Ảnh: Hà Thương/Bảo tàng Vũ Dân Tân
Trên hết, việc xuất hiện một không gian như Bảo tàng Vũ Dân Tân đã phần nào đóng góp một địa chỉ cho khán giả ái mộ nghệ thuật, đặc biệt là những người quan tâm tìm hiểu về sự phát triển nghệ thuật đương đại ở Việt Nam.
Bảo tàng không chỉ giới thiệu các sáng tác của Vũ Dân Tân mà còn có không gian lưu trú và hỗ trợ trưng bày cho các nghệ sĩ đương đại. Nỗ lực này cũng ghi dấu sự can đảm vô cùng lớn từ đội ngũ thực hiện Bảo tàng, bởi lẽ nuôi dưỡng, gìn giữ một không gian phi lợi nhuận dành cho nghệ thuật đương đại chưa bao giờ là dễ dàng.