Vũ Đình Long (1896-1960) được biết đến trước hết như một kịch tác gia, người mở đầu cho sự hình thành và phát triển của kịch nói Việt Nam hiện đại. Vở hài kịch Chén thuốc độc, được đăng báo Hữu Thanh, công diễn tại Nhà hát Lớn Hà Nội, và in thành sách cùng năm 1921, đã trở thành sự kiện khởi sinh cho nền kịch nghệ hiện đại Việt Nam. Đến năm 1923, ông xuất bản sách Tòa án lương tâm, vở bi kịch đầu tiên do người Việt Nam sáng tác.
Về sau, Vũ Đình Long còn tiếp tục sáng tác và Việt hóa nhiều vở kịch nước ngoài, làm nên vị trí quan trọng của ông trong đời sống kịch nghệ như một kịch tác gia không chỉ giàu thành tựu mà còn có cách thức, phong cách và cá tính sáng tạo độc đáo.
Ông Vũ Đình Long mở ra cả một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa ở Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX. Ảnh: Tư liệu
Dù sớm thành danh với kịch nói, rất bất ngờ, ông quyết định gác bút để tập trung cho việc tổ chức và điều hành hoạt động xuất bản văn chương và báo chí.
Trong khoảng thời gian ngắn lánh nạn chiến tranh, phải tản cư về làng Mục Xá (Hà Nội) quê hương cuối năm 1943, được thư nhàn để viết kịch Đàn bà mới, trong lời "Tựa", Vũ Đình Long đã nhân việc viết kịch trở lại để "bày tỏ cùng các bạn thân yêu rằng: bấy lâu tôi nghỉ viết, không phải là vì tôi lười biếng hay thờ ơ lãnh đạm với văn chương. Tôi đã nghỉ viết để có thể chuyên tâm chú ý vào công cuộc xuất bản, công cuộc ấy, theo ý tôi, rất cần cho sự chấn hưng văn chương. Tôi vẫn tin rằng: tôi theo đuổi công cuộc ấy có ích hơn là cặm cụi ngồi soạn năm mười vở kịch chưa chắc đã hay ho gì" [1].
Từ Tân Dân thư quán đến nhà in Tân Dân
Giữa năm 1925, Vũ Đình Long thôi làm giáo học ở Hà Đông trở về Hà Nội, thành lập Tân Dân thư quán ở số 29 Hàng Bông Đệm, con phố nổi tiếng với các cửa hiệu in ấn và phát hành sách báo ở Hà Nội từ đầu thế kỷ 20.
Vũ Đình Long kết hợp với những bạn hữu đã có danh tiếng ở Hà thành, như Dương Bá Trạc, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Đỗ Mục chủ trương giới thiệu loại sách mỏng (fascicule) Chuyện giải trí, hướng tới độc giả trẻ em, và biến ý tưởng này thành bộ sách thiếu nhi đầu tiên của văn chương Việt Nam hiện đại.
Ở khởi đầu này, nhận thấy sự quan tâm của dư luận tới vụ án của Phan Bội Châu và phong trào để tang Phan Chu Trinh, Tân Dân thư quán cũng nhanh chóng xuất bản các cuốn sách tập hợp một số nghị luận của hai chí sĩ nổi tiếng.
Song quan trọng hơn, ý thức về Hà Nội như một đô thị thuộc địa hiện đại và một trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội đang biến đổi mau lẹ, Vũ Đình Long hướng Tân Dân thư quán về phía văn chương giải trí, tập trung xuất bản các loại sách khôi hài trào phúng, tiểu thuyết dịch và phóng tác văn chương bình dân Tàu và văn chương đại chúng phương Tây. Tân Dân thư quán đặc biệt chú trọng loại hình tiểu thuyết võ hiệp kỳ tình đang làm mưa làm gió tại các đô thị Trung Hoa đương đại và tiểu thuyết phiêu lưu trinh thám như một đặc sản giải trí của công chúng đô thị Âu Tây, cũng như những tác phẩm của nhà văn Việt Nam chịu ảnh hưởng của các xu hướng văn chương này.
Kết quả là, rất nhanh chóng, Tân Dân thư quán trở thành một thế lực mới nổi trên thị trường kinh doanh sách báo ở Hà Nội, chỉ sau khoảng 5 năm thành lập, đã xuất bản khoảng 100 đầu sách các loại, trong đó có những đầu sách được tái bản nhiều lần. Đó thực sự là một số lượng đầu sách không nhỏ đối với một thư quán mới tham dự vào thị trường sách báo bắt đầu trở nên sôi động, bất kể việc như nhiều lần Vũ Đình Long than thở, việc phải phụ thuộc vào nhà in ngoài khiến cho nhiều kế hoạch xuất bản của Tân Dân thư quán bị lỡ dở, chậm tiến độ.
Bước ngoặt thứ nhất trên hành trình trỗi dậy để trở thành một đế chế kinh doanh văn hóa bắt đầu bằng việc Vũ Đình Long quyết định mở nhà in riêng để vừa tự chủ việc in ấn cho Tân Dân thư quán vừa mở rộng việc kinh doanh sang lĩnh vực in ấn công nghiệp vào lúc mà văn hóa in ấn bắt đầu tác động rõ rệt đến mọi mặt đời sống xã hội Việt Nam thuộc địa nhờ sự trưởng thành của làng báo, làng văn ở cả Nam Kỳ và Bắc Kỳ.
Nhà in Tân Dân được thành lập cuối năm 1930, có trụ sở tại số 1-3 phố Phủ Doãn, với máy in cỡ lớn được đặt mua từ Thượng Hải. Cùng với sự tự chủ in ấn, Vũ Đình Long còn chuẩn bị cho sự bùng nổ của thương hiệu Tân Dân bằng việc chuyển trụ sở thư quán từ số 29 về số 93 Hàng Bông, gây dựng địa chỉ này thành văn phòng và cửa hàng của cả thư quán và nhà in. Ông đồng thời mở thêm một cửa hàng mới - Đài bát giác Tân Dân - có kiến trúc hiện đại "xây bằng xi măng cốt sắt, sẽ làm rực rỡ một góc phố trông ra Hồ Gươm" [2] ngay cạnh quảng trường tướng Négrier (quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục), gần bến xe điện Bờ Hồ đông người lại qua. Tân Dân thư quán và Đài bát giác Tân Dân nhận làm đại lý phát hành cho nhiều thư quán và nhà xuất bản khắp ba kỳ.
Bộ Tam Quốc để giá rẻ 3 xu, phát hành hằng tuần, khách mua lẻ có thể đóng lại thành bộ. Ảnh: Tư liệu
Nhà in Tân Dân in sách cho Tân Dân thư quán, in dịch vụ cho các cơ sở ngoài, đồng thời đứng tên in loại sách riêng, ghi rõ "Nhà in Tân Dân xuất bản", bắt đầu với bản dịch bộ Tam Quốc. Sách in thành từng tập mỏng 16 trang, để giá rẻ 3 xu, phát hành theo từng tuần, khách mua lẻ rồi có thể đóng lại thành bộ để lưu giữ. Đây là một sáng kiến tuyệt vời để tiếp cận tệp khách hàng bình dân, thậm chí là khách hàng nghèo.
Lấn sân sang báo chí và cuộc cạnh tranh với Tự Lực văn đoàn
Bước ngoặt thứ hai đến vào năm 1934, khi Vũ Đình Long quyết định lấn sân sang hoạt động báo chí.
Làng báo Bắc Kỳ dần dà trở nên sôi động vào đầu những năm 1930. Sự xuất hiện của nhóm trí thức văn nghệ sĩ Tây học trẻ tuổi mà về sau sẽ thành lập nên Tự Lực văn đoàn cùng việc họ đứng ra xuất bản tờ Phong Hóa theo phong cách báo chí hiện đại vào năm 1932 đã gây men cảm hứng trong đời sống báo chí và văn chương đang biến chuyển ở Hà Nội.
Tiểu Thuyết Thứ Bảy chuyên chú vào giải trí và văn chương, không chủ trương trực tiếp can dự vào các vấn đề chính trị và xã hội. Ảnh: Tư liệu
Số lượng ấn bản mỗi kỳ tiệm cận con số hàng vạn của Phong Hóa tác động mạnh mẽ tới Vũ Đình Long. Sẵn có nhà in và kinh nghiệm xuất bản - phát hành sách gần mười năm, từ giữa năm 1934, Vũ Đình Long đã lên kế hoạch và quyết định ấn hành báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy, một tờ báo chuyên chú vào giải trí và văn chương, không trực tiếp can dự vào các vấn đề chính trị và xã hội. Chính lựa chọn này làm cho Tiểu Thuyết Thứ Bảy khác biệt loại hình báo dư luận và văn chương như Phong Hóa của Tự Lực văn đoàn, và vì thế đem đến cho nó tệp độc giả riêng, chủ yếu là người lao động bình dân biết chữ, có cơ hội tiếp cận giáo dục phổ cập, chứ không phải những thanh niên trí thức học cao, có vị thế và tham vọng cải cách xã hội như độc giả của Tự Lực văn đoàn. Và chính tệp độc giả riêng đông đảo này đã giúp cho Tiểu Thuyết Thứ Bảy có chỗ đứng và có thể cạnh tranh với Tự Lực văn đoàn.
Nhưng từ nửa sau những năm 1930, khi Tự Lực văn đoàn xác lập vị trí tiên phong và tiến vào trung tâm đời sống báo chí và văn chương hiện đại Việt Nam, cũng là khi tầng lớp bình dân trở thành đối tượng ưu tiên của cả Tân Dân và Tự Lực văn đoàn, thì thế song hành và việc "ngầm" phân chia thị phần không còn nữa. Sự cạnh tranh giữa hai thế lực hàng đầu này càng trở nên gay gắt.
Ích Hữu dành nhiều dung lượng cho các bài viết tranh luận và đối thoại với Tự Lực văn đoàn. Ảnh: Tư liệu
Đầu năm 1935, Tự Lực văn đoàn ra mắt Ngày Nay, tờ báo thứ hai của nhóm thì đầu năm 1936, Vũ Đình Long cũng khai sinh báo Ích Hữu, tờ báo thứ hai của nhà Tân Dân, dù có nhiều chuyên mục và mảng miếng giải trí hơn song vẫn cùng loại hình với Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Sự ra đời của Ích Hữu, phát hành thứ Ba hằng tuần, trước nhất hướng tới mục tiêu giúp phổ biến và choán đầy thương hiệu Tân Dân trong đời sống báo chí và văn chương đương thời, đồng thời là để Tân Dân có thêm diễn đàn chống lại sự công kích từ Tự Lực văn đoàn. So với Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Ích Hữu dành nhiều dung lượng hơn hẳn cho các bài viết tranh luận và đối thoại với họ. Nhưng cho tới cuối năm 1937 đầu năm 1938, khi Tự Lực văn đoàn chuyển từ việc lấy văn chương phụng sự lý tưởng cải cách xã hội sang đấu tranh chính trị trực tiếp, họ cũng không còn chủ động hào hứng với việc công kích trong phạm vi văn chương nữa. Có thể do thiếu những tranh cạnh thu hút sự chú ý của công chúng, và nhất là phải đối diện với những khủng hoảng kinh tế xã hội, Vũ Đình Long tự đình bản Ích Hữu vào đầu năm 1938 để tập trung nguồn lực cho Tiểu Thuyết Thứ Bảy.
Lựa chọn chính trị khiến cho Ngày Nay của Tự Lực văn đoàn bị đình bản rồi phải đóng cửa năm 1940, ngay trước khi phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương. Trong khi đó, nhờ vào lựa chọn giải trí và văn chương, Tiểu Thuyết Thứ Bảy đã được Vũ Đình Long duy trì đến tận Cách mạng tháng Tám năm 1945, dù nhiều lần phải thay đổi thể thức, lúc giữ là tuần báo, lúc chuyển sang nguyệt san, thậm chí có lúc ra hằng tuần nhưng phải giảm trang và in khổ rộng như nhật báo để tồn tại trước biến động của thời cuộc.
Cuộc tranh cạnh ảnh hưởng giữa Tân Dân và Tự Lực văn đoàn còn diễn ra trên những bình diện và chiều kích khác. Tương tự cách Tự Lực văn đoàn thực hiện ở nhà xuất bản Đời Nay, Vũ Đình Long cũng thử xuất bản sách lấy từ các tác phẩm đăng báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Nhưng chỉ sau hai cuốn - Kép Tư Bền (1935) và Cô giáo Minh (1936), đều của Nguyễn Công Hoan - Vũ Đình Long đã không theo đuổi cách thức này. Sách đẹp nhưng bán giá cao không phải là ưu tiên của ông.
"Sách giá trị bán giá rẻ" như loại Lá Mạ của Tự Lực văn đoàn những năm 1936-1937 cũng không hấp dẫn được Vũ Đình Long. Biên lợi nhuận và tệp độc giả trung thành của Tân Dân thôi thúc Vũ Đình Long tìm đến một lựa chọn khác.
Phổ thông bán nguyệt san ra đời cuối năm 1936, dưới hình hài tờ báo, là "sáng kiến phi thường" của Vũ Đình Long, để lách vào khoảng trống quyền lực mà cả chính quyền thuộc địa Pháp và đối thủ Tự Lực văn đoàn không tính đến.
Mỗi số Phổ thông bán nguyệt san đều dành phần lớn dung lượng để in trọn một tác phẩm văn học. Ảnh: Tư liệu
Tất nhiên, Tự Lực văn đoàn lên án mạnh mẽ hình thức "phi thư phi báo", "phi cầm phi thú" của Phổ thông bán nguyệt san. Nhưng vì tính chất phi chính trị của cuốn-sách-tờ-báo này, chính quyền thuộc địa làm ngơ lựa chọn của Vũ Đình Long, bất chấp việc Phổ thông bán nguyệt san, nhờ vào hình hài tờ báo, có được lợi thế về cả giá giấy và cước phí vận chuyển so với quy định, nếu nó được xác định là một cuốn sách thông thường.
Cũng như với Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Vũ Đình Long đã duy trì Phổ thông bán nguyệt san cho tới Cách mạng tháng Tám, khiến cho hai tờ báo này thành hai diễn đàn chủ chốt, vừa giúp công bố sáng tác của nhà văn thành danh, gắn bó với nhà/nhóm Tân Dân như Lan Khai, Lê Văn Trương, Nguyễn Triệu Luật, Phùng Tất Đắc, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Nguyễn Xuân Huy, Lưu Trọng Lư, Thanh Châu, Ngọc Giao,...; vừa giới thiệu được những văn tài mới, như Tô Hoài, Nam Cao, Kim Lân, Lý Văn Sâm, Nguyễn Văn Xuân, Phan Du,... rồi đây sẽ đều trở thành những nhà văn trụ cột của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Nhà xuất bản Tân Dân và sự xiển dương sáng tác văn chương
Cuối những năm 1930 ghi nhận bước ngoặt thứ ba trong công cuộc xuất bản của Vũ Đình Long. Đây là một bước ngoặt tự thân, bởi lúc này, như đã nói, đối thủ chính của Tân Dân là Tự Lực văn đoàn đã quyết liệt gác sang một bên câu chuyện văn chương để tập trung hoạt động chính trị trực tiếp, dù các thành viên Tự Lực văn đoàn vẫn sáng tác, công bố tác phẩm, thậm chí tích cực tìm tòi đổi mới nghệ thuật tự sự theo hướng hiện đại hóa.
Nghiễm nhiên thế chỗ vào không gian văn chương mà Tự Lực văn đoàn để lại, Vũ Đình Long nhận thấy vai trò và trách nhiệm của ông trong việc xác lập danh phận cho những tài năng văn chương đã góp phần vào sự thành công của đế chế Tân Dân và sự phát triển của văn chương Việt Nam hiện đại.
Năm 1938, Vũ Đình Long trở lại với việc xuất bản sách, bằng việc lập ra nhà xuất bản Tân Dân, không chỉ như một cách gọi ước định về việc chuyên biệt hóa hoạt động xuất bản văn chương so với nhà in mà còn, thông qua hình hài của cuốn sách, biến các sáng tác của nhà văn được xem như là thương phẩm vì mục đích kinh doanh trên báo chí thành nghệ phẩm vì mục tiêu xác lập chuẩn mực nghệ thuật. Tên gọi tủ sách "Những tác phẩm hay" ra đời cùng với nhà xuất bản Tân Dân là bảo chứng cho lựa chọn này, dù những tác phẩm ấy, hầu hết đều đã hiện diện từng phần trên các tờ báo của nhà Tân Dân. Ngoài ba cuốn sách dịch (Liêu Trai chí dị - 2 tập) của Bồ Tùng Linh, Lâu đài họ Hạ của Hoffmann, Hận ngày xanh của Lamartine), hơn 20 cuốn sách của hơn 10 tác giả Việt Nam đã hiện diện dưới nhãn hiệu này, trong đó có những tác phẩm tiêu biểu như Lầm than, Truyện đường rừng (Lan Khai); Vang bóng một thời (Nguyễn Tuân); Cô gái làng Sơn Hạ (Ngọc Giao); Cai (Vũ Bằng)...
Tiêu biểu cho tủ sách "Những tác phẩm hay" có các tác phẩm như Lầm than, Truyện đường rừng (Lan Khai); Vang bóng một thời (Nguyễn Tuân); Cô gái làng Sơn Hạ (Ngọc Giao); Cai (Vũ Bằng)... Ảnh: Tư liệu
Năm 1939, Vũ Đình Long cho ra mắt tạp chí văn chương Tao Đàn, như được nhắc đến trong lời thưa cùng bạn đọc, là "nơi gặp gỡ của hết thảy trào lưu tư tưởng, và mọi khuynh hướng nghệ thuật" có chung mục đích "gây dựng một nền văn hóa Việt Nam" [3]. Nỗ lực thoát khỏi "sức đè nén của văn hóa Tàu", nền văn hóa Việt Nam đã được bồi đắp thông qua việc "hiểu biết, dung hòa, thu nhập" văn hóa ngoại lai suốt từ đầu thế kỷ 20. Nhưng theo những người làm Tao Đàn, như thế là chưa đủ, "đã đến cái thời kì cần phải sáng tác", vì "chỉ những công trình sáng tác mới là những sự phát biểu linh hoạt của tinh thần dân tộc", và còn vì "để tránh những áp lực khác có thể tai hại hơn nữa, tinh thần Việt Nam cần phải được phát huy, được nảy nở ra trong những công trình sáng tác mãnh liệt và rỡ ràng" [4].
Năm 1941, Vũ Đình Long còn xuất bản thêm báo Truyền bá, ấn phẩm văn học thiếu nhi đồ sộ và độc đáo hàng đầu ở Việt Nam trước năm 1945, vừa nhằm tiếp cận một tệp khách hàng triển vọng, vừa nhằm bồi dưỡng bạn đọc trẻ, những công dân tương lai của đất nước giờ đây đã đông đảo và tiến bộ hơn rất nhiều bạn đọc của Chuyện giải trí mà ông chủ trương ngay từ khi dấn bước vào hoạt động kinh doanh văn hóa.
Làm in ấn, xuất bản báo chí và văn học chứ không phải làm chính trị - Vũ Đình Long tự gọi là "công việc văn hóa" [5], để rồi trong tình thế thuộc địa, thực hành văn chương phi chính trị ấy lại chính là thực hành chính trị triệt để nhất, khi nhà văn nhận ra rằng đã đến lúc "tương lai tinh thần của chủng tộc đã thành một mối băn khoăn tha thiết trên mọi băn khoăn khác" [4].
Vũ Đình Long thực sự đã kiên định với lựa chọn này, khi mà, cho tới năm 1949, tục bản Tiểu Thuyết Thứ Bảy trong đô thị Hà Nội tạm chiếm, ông "vẫn giữ tôn chỉ xưa", theo đó "Tiểu Thuyết Thứ Bảy sẽ không làm chính trị, một là vì đó không phải là địa hạt của tờ báo này, hai là việc chính trị đã có nhiều bạn khác gánh vác, chúng tôi chỉ xin nhận làm công việc văn hóa mà chúng tôi cho là cũng cần lắm lắm trong lúc này" [6].
Có thể nói, hệ sinh thái công nghiệp văn hóa mà Vũ Đình Long dày công tạo dựng không chỉ là cỗ máy kiếm lời mà còn làm thành một thiết chế hữu hiệu để khai thác, bảo vệ, phát huy và chuyển hóa văn hóa thành giá trị bền vững, kiến tạo bản sắc, bản lĩnh của doanh nghiệp và quốc gia - dân tộc. Xét từ quan niệm này, đế chế phát hành - in ấn - báo chí - xuất bản quy mô lớn của Vũ Đình Long và nhà/nhóm Tân Dân không chỉ là một di chỉ ký ức. Đó còn là câu chuyện nóng hổi tính thời sự.
---
[1] Vũ Đình Long (1944), Đàn bà mới (kịch 3 hồi), NXB Tân Dân, tr.II-III.
[2] Quảng cáo trên trang bìa các sách Giọt lệ sông Hương, Đời Hoàng Oanh của Tam Lang Vũ Đình Chí, những cuốn sách đầu tiên do nhà in Tân Dân ấn hành cuối năm 1930.
[3] Tao Đàn, số 1 (tháng 3/1939), tr.4.
[4] Tao Đàn, số 1 (tháng 3/1939), tr.5.
[5] Tiểu thuyết thứ Bảy (lớp mới), số 1 (1-10/3/1959), tr.3.
[6] Tiểu thuyết thứ Bảy (lớp mới), số 1 (1-10/3/1959), tr.3.