
Khoa học quả là cao sang thật, thuần khiết thật, nhưng đi mãi với khoa học vào đời sống và tự nhiên, dần dần ta cũng nhận ra, như lời triết gia A.N.Whitehead, "tự nhiên không đến với ta sạch sẽ như ta nghĩ về nó", và khoa học, trong tinh thần qui giản của cơ giới luận, với việc làm sạch tự nhiên đó đã "hất đổ cả đứa bé cùng với chậu nước tắm".

Trong tự nhiên và cuộc sống thực, nếu ta không cố tình đơn giản hoá, cố gò ép các quan hệ thực vào trong khuôn mẫu tuyến tính, thì thực ra đại đa số các quan hệ trong thực tế đều là phi tuyến! Từ đường biên của chiếc lá, vành ngoài của cánh hoa, cho đến mặt nước hồ lô nhô, bờ biển dài khúc khuỷu,...đâu có thẳng băng, phẳng lỳ, trơn tru như những đường thẳng, những mặt phẳng, mặt cầu mà ta từng được học?
Việc phát hiện ra các hiện tượng hỗn độn hay các fractal, như lời của tác giả J.Gleich, đã tạo ra một "khoa học mới", khoa học về các hệ thống phức tạp, và nhìn trước rằng đó sẽ là khoa học của thế kỷ 21. Diễn biến của tình hình trong mấy chục năm qua đã bước đầu chứng thực điều khẳng định đó. Trước hết, từ tất cả các lĩnh vực nghiên cứu tự nhiên và kinh tế xã hội, người ta đều thừa nhận rằng các hệ thống thực tế mà chúng ta cần tìm hiểu đều là các hệ thống phức tạp, nói chung là không tất định và không tuyến tính, có những hành vi hay động thái phát triển không đều đặn, trơn tru, khó mà tiên đoán được, v.v... Thế giới tự nhiên và xã hội hiện ra trước mắt ta phức tạp hơn rất nhiều những gì mà "khoa học" đã hình dung trước đó, đầy những hỗn tạp thiên nhiên và cát bụi trần thế, và hình như chính trong những hỗn tạp và cát bụi đó mà con người tìm ra được vẻ đẹp chân thực của cuộc sống và lẽ sống cao quí của mình.
Rồi sau những cảm nhận ban đầu như vậy, người ta đã nghiêm túc nghĩ đến việc phải xây dựng một khoa học mới, khoa học về cái phức tạp, hay về các hệ thống phức tạp, để làm cơ sở chung cho những nhận thức mới của mình. Đối tượng nghiên cứu của khoa học mới này là cái phức tạp, các hệ thống phức tạp, tức các hệ thống bao gồm nhiều thành phần bộ phận, mỗi bộ phận cũng là một hệ thống có thể có hành vi phức tạp, không tuyến tính, các bộ phận tương tác với nhau bởi nhiều mối quan hệ đa dạng, v.v...
Hành vi của các hệ thống như vậy hiển nhiên là rất phức tạp, có hỗn độn, có trật tự, và có những chuyển hoá giữa hỗn độn và trật tự. Không có mô hình lý thuyết chung cho những hệ thống như vậy, mà tuỳ theo từng lĩnh vực nghiên cứu ta có thể xây dựng những mô hình riêng; vì đối tượng là hết sức đa dạng nên cũng không thể có một số phương pháp hình thức chung cho việc nghiên cứu, ta có thể vẫn sử dụng các "phương pháp khoa học" cũ (như phân tích định lượng và suy luận logích) cho việc nghiên cứu ở một số bài toán cụ thể có tính địa phương và cục bộ, còn nói chung, nhất là với những bài toán thuộc về toàn thể của toàn hệ thống thì cần vận dụng cả những suy luận định tính, những cảm nhận trực tiếp bằng trực cảm trí tuệ thông qua các giác quan của người nghiên cứu. Để trợ giúp cho những suy luận và cảm nhận như vậy thì với công cụ mạnh là máy tính điện tử hiện nay, các phương pháp có hiệu quả nhất là mô hình hoá và mô phỏng bằng đồ hoạ máy tính.
Với những quan điểm và phương pháp nghiên cứu như trình bày sơ lược ở trên, "khoa học mới" về phức tạp có nội dung là nghiên cứu các hiện tượng và hành vi của các hệ thống phức tạp trong nhiều lĩnh vực khác nhau mà những chủ đề chung là các vấn đề về liên kết, ảnh hưởng của tính phi tuyến đến các hành vi hỗn độn và phức tạp, hành vi của hệ thống trong các trạng thái hỗn độn, phi cân bằng, "ở bên bờ hỗn độn" (at the edge of chaos), những khả năng tự tổ chức của hệ thống, và nói chung, khả năng hợp trội (emergence) của hệ thống trong các trạng thái xa cân bằng, ở bên bờ hỗn độn, để tạo lập nên những trật tự mới, sáng tạo những thuộc tính mới của hệ thống - khả năng hợp trội được xem là chìa khoá để tìm hiểu bản chất của sáng tạo trong quá trình tiến hoá của mọi hệ thống, từ các hệ thống trong sinh học, sinh thái học, cho đến các hệ thống kinh tế, xã hội, trong hoạt động của các hệ thần kinh, các hệ cảm thụ và nhận thức của con người.
Khoa học mới ra đời chưa lâu, ảnh hưởng của nó trong các lĩnh vực nhận thức nông sâu còn nhiều khác nhau, nhưng ta có thể tin rằng ảnh hưởng đó chắc chắn sẽ được phát triển sâu rộng một cách nhanh chóng trong thế kỷ 21, thế kỷ mà ta đang sống.
Đối với các lĩnh vực nghiên cứu về xã hội và nhân văn, những ý tưởng cơ bản của "khoa học mới" tỏ ra rất thích hợp. Kinh tế học trong thời gian gần đây, với sự chấp nhận luật "tỷ suất lợi nhuận tăng dần" và các hệ quả của nó, đã được chứng tỏ là rất phù hợp với thực tế phát triển của nền kinh tế tri thức công nghệ cao trong tiến trình toàn cầu hóa. Trong các nghiên cứu về xã hội và chính trị, các ý tưởng về tiến hoá bằng hợp trội đang góp phần tích cực trong việc giải thích nhiều hiện tượng thực tế, hợp trội trong tình trạng ở bên bờ hỗn độn chủ yếu được tiến hành bằng sự thích nghi, mà bản chất của hoạt đông thích nghi là khả năng học, học để hiểu mình, học để hiểu người, hiểu đối tượng, và do đó sẽ tìm được khả năng đồng tiến hóa trong hợp trội để tạo nên trật tự mới.
Trong văn học nghệ thuật, "khoa học mới" đang góp phần cung cấp những ý tưởng mới, những "khung mẫu" mới cho các khuynh hướng "hậu hiện đại" cổ vũ cho những "tiểu tự sự", những chuyện cục bộ, ngẫu nhiên, tình cờ và nhất thời,... hơn là những "đại tự sự", những chuyện có lớp lang bài bản, những chân lý phổ quát, bền vững và lâu dài. Trong mọi lĩnh vực của nhận thức, "khoa học mới" sẽ không cung cấp cho ta một cái lõi tri thức vạn năng để áp dụng được vào mọi lĩnh vực riêng, mà chỉ gợi cho ta một số ý niệm và cách thức để từ đó mỗi lĩnh vực sẽ tự tìm cho mình những tri thức mà mình tự xem là cần có để ứng dụng trong các tình huống cụ thể của mình.