Năm 1820, trước sự đe dọa của bệnh đậu mùa, vua Minh Mạng đã lệnh cho Jean Marie Despiau - bác sĩ người Pháp, một trong những bác sĩ riêng của vua Gia Long trong gần 20 năm - sang Ma Cao để tìm kiếm vắc-xin theo phương pháp của Edward Jenner.
Bác sĩ người Anh Edward Jenner là người sáng tạo ra vắc-xin vào năm 1796. Ông đã phát hiện ra nguyên lý miễn dịch bằng cách tiêm mầm bệnh đậu bò cho một cậu bé. Kết quả là cơ thể cậu bé đã sinh ra kháng thể giúp không bị lây nhiễm căn bệnh đậu mùa chết người.
Để bảo quản vắc-xin trong suốt hải trình dài ngày, Despiau đã duy trì mầm vắc-xin sống bằng cách dùng hai trẻ nhỏ làm "người mang mầm bệnh". Đầu năm 1821, vắc-xin được đưa về tới kinh thành Huế an toàn. Ngay sau khi cập bến, Despiau đã tiêm chủng cho các con của Minh Mạng. Ngoài ra, ông còn huấn luyện một số đồng nghiệp trong Thái Y Viện cách tiêm chủng tại trung tâm tiêm chủng nằm trong khuôn viên cung điện.
Câu chuyện này được GS C. Michele Thompson (Giáo sư Lịch sử Đông Nam Á tại Đại học Bang Nam Connecticut, Mỹ) đặt ra ở phần đầu cuốn sách "Y học cổ truyền Việt Nam: Một câu chuyện lịch sử", như một câu hỏi gợi mở, rằng tại sao các thầy thuốc Việt Nam vốn thông thuộc kinh điển chữ Hán không áp dụng phương pháp "chủng đậu" (variolation) của Trung Quốc suốt nhiều thế kỷ, nhưng lại nhanh chóng đón nhận kỹ thuật tiêm chủng vắc-xin của phương Tây ngay từ đầu thế kỷ XIX?
Y học cổ truyền Việt Nam, theo tác giả, thường được chia thành hai nhánh chính: thuốc Bắc (thuốc lấy cảm hứng từ Trung Hoa) và thuốc Nam (thuốc bản địa Việt Nam). Trong ảnh là bức tranh mô tả một hiệu thuốc Đông y có tên Ích Nguyên Đường (hiệu thuốc bồi bổ nguyên khí). Nguồn: Sách Y học cổ truyền Việt Nam: Một câu chuyện lịch sử
Do Việt Nam từng trải qua hàng thiên niên kỷ giao lưu văn hóa với phương Bắc và sử dụng chữ Hán làm văn tự hành chính, khoa cử, nhiều nhà nghiên cứu dễ dàng quy kết rằng y học cổ truyền Việt Nam chỉ là bản sao thụ động của Đông y Trung Hoa. Cách nhìn "Trung Hoa trung tâm" (Sinocentric) vốn rất phổ biến và chi phối giới nghiên cứu Đông Á suốt nhiều thập kỷ.
GS Thompson phản bác cách nhìn này bằng cách hé mở cho người đọc những khác biệt ngay từ cách các thầy thuốc Trung Hoa và Việt Nam giải thích nguyên nhân gây bệnh.
Trong y học Trung Hoa, một quan niệm có ảnh hưởng lớn cho rằng bệnh đậu mùa bắt nguồn từ "thai độc" (taidu), được truyền từ cha mẹ từ trước khi trẻ sinh ra. Để tạo miễn dịch, các thầy thuốc đã phát triển phương pháp đưa mầm bệnh vào cơ thể người lành qua đường hô hấp. Quá trình đưa mầm vào cơ thể con người được gọi là chủng đậu, có nghĩa là "trồng bệnh đậu mùa". Phương pháp chủng đậu được thiết kế nhằm kích hoạt cho "thai độc" phát ra sớm trong điều kiện có kiểm soát.
Thông qua việc đối chiếu các bản thảo y học, GS Thompson nhận thấy các thầy thuốc Việt Nam có cách lý giải khác. Người Việt quan niệm đậu mùa cũng như nhiều chứng bệnh truyền nhiễm khác chủ yếu do các tác nhân độc hại từ môi trường bên ngoài xâm nhập vào cơ thể. Quan niệm về độc tố thai nhi, theo tác giả, mâu thuẫn với các lý thuyết về nguyên nhân bệnh tật mà hầu hết người Việt Nam ưa chuộng.
Với người Việt, hầu hết các loại thuốc đều có thể có độc, nên chất độc đưa vào từ bên ngoài không phải lúc nào cũng gây hại mà có thể dùng "dĩ độc công độc" (lấy độc trị độc). Chính nhờ sự tương đồng này, "ngay lần đầu tiên người Việt được giải thích về tiêm chủng, họ đã được cho thấy một kỹ thuật có cơ sở lý thuyết không mâu thuẫn với niềm tin y học của mình. Họ háo hức tìm hiểu và thực hành tiêm chủng", bà viết.
Về mặt thực hành, họ cũng không áp dụng các phương pháp đưa chất chủng ngừa qua đường mũi theo kiểu Trung Hoa. Một số người Pháp ghi nhận rằng các thầy thuốc người Việt thường "trích hoặc khứa da tay bệnh nhân rồi sau đó nhỏ hoặc xát chất chủng lên chỗ thủng trên da để chủng ngừa bệnh nhân". Việc kết hợp khứa da và chọn vị trí trên bắp tay trong quá trình chủng ngừa ở người Việt là dấu hiệu chỉ điểm rõ ràng cho thấy việc thực hiện chủng ngừa ở Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn từ quy trình chủng ngừa hay tiêm chủng kiểu châu Âu.
Theo lập luận của GS Thompson, những quan niệm bệnh tật khác nhau có thể dẫn tới những lựa chọn y tế khác nhau.
Ngay từ chương mở đầu, bà chỉ ra rằng dòng chảy tri thức y học giữa hai quốc gia thực chất là một cuộc đối thoại hai chiều. Người Việt không chỉ tiếp thu lý thuyết y học phương Bắc mà còn điều chỉnh theo sinh thái bản địa, thậm chí đóng góp ngược lại cho nền y học Trung Hoa, tiêu biểu qua trường hợp danh y Tuệ Tĩnh từng được đưa sang phục vụ triều đình nhà Minh vào thế kỷ XIV.
Nếu câu chuyện về vắc-xin đậu mùa thời Minh Mạng cho thấy tầm nhìn thực tế của tầng lớp tinh hoa cung đình, thì khảo cứu về chữ Nôm ở phần sau của cuốn sách lại đưa độc giả đi sâu vào đời sống dân gian.
Y học cổ truyền Việt Nam, theo tác giả, thường được chia thành hai nhánh chính: thuốc Bắc (thuốc lấy cảm hứng từ Trung Hoa) và thuốc Nam (thuốc bản địa Việt Nam). Chữ Hán là công cụ của giới nho sĩ khoa bảng dùng để đọc hiểu kinh điển y học phương Bắc. Thế nhưng, hệ sinh thái đặc thù của Việt Nam lại sản sinh ra rất nhiều loài thảo mộc, dược liệu bản địa đặc trưng cho xứ sở. Để ghi chép tên gọi tiếng Việt của các loài cây cỏ ấy cùng kinh nghiệm trị bệnh truyền miệng, các lương y Việt Nam đã sử dụng chữ Nôm. GS Thompson đã đưa ra một số trường hợp như dừa, ngô, tỏi làm ví dụ.
Bà cũng chỉ ra rằng suốt nhiều thế kỷ cho đến tận đầu thế kỷ XX, chữ Nôm là "ngôn ngữ chuyên môn" của các gia đình hành nghề y ở làng xã. Thông qua việc khảo sát các bản thảo y thư Hán - Nôm kết hợp điền dã, phỏng vấn các gia đình lương y truyền thống tại Việt Nam, tác giả cho thấy chính chữ Nôm đã giúp bảo tồn và truyền tải một dòng mạch tri thức y học dân chủ, gắn liền với thổ nhưỡng và con người bản xứ.
Cuốn sách "Y học cổ truyền Việt Nam: Một câu chuyện lịch sử" vừa được xuất bản tại Việt Nam. Ảnh: TIMES
Những ví dụ điển hình về sự đa dạng của thực vật học có thể tìm thấy trong văn bản Bách bệnh kiêm trị ở đầu thế kỷ XX do Bùi Gia biên soạn vào năm 1920. Văn bản là tập hợp các đơn thuốc, cảnh báo liên quan đến chẩn đoán và tư vấn về bào chế, sử dụng các loại thuốc được lưu truyền trong gia đình của tác giả. Văn bản này được viết chủ yếu bằng chữ Nôm, cùng một số ít chữ Nho. Hay nếu tính các công trình viết riêng về bệnh đầu mùa, gần 73% các tác phẩm về bệnh này ở Việt Nam được viết hoàn toàn bằng chữ Nôm hoặc Hán Nôm.
Khảo cứu của GS Thompson cho thấy người Việt đã tiếp xúc với những truyền thống y học lớn, nhưng đồng thời tham gia vào quá trình lựa chọn, diễn giải và biến đổi chúng. Trong quá trình ấy, ngôn ngữ bản địa, kinh nghiệm thực hành và những quan niệm về cơ thể đều có vai trò riêng.
"Công việc thực hành y học và chấp nhận hoặc khước từ các phương pháp trị liệu khác nhau của người thầy thuốc Việt Nam phản ảnh những cơ cấu lý thuyết ảnh hưởng đến tiến trình ra quyết định của họ", bà viết. Nền y học Trung Hoa chắc chắn đã có ảnh hưởng đáng kể đối với y học Việt Nam, và nếu đánh giá thấp nó sẽ gây bất lợi cho việc tìm hiểu y học Việt Nam. "Tuy nhiên, việc xem nhẹ tác động của các nhân tố và chủ thể bản địa cũng gây bất lợi không kém cho các nhận thức này. Các nền tảng lý luận cũng như thực tiễn của nền y học Việt Nam là của chính những thầy thuốc người Việt chứ không phải du nhập từ các tài liệu Trung Hoa".