Anne Carson năm 1998. Ảnh: Britannica
Anne Carson viết về quá nhiều điều: bộ kimono mà nàng Albertine mặc trong bộ tiểu thuyết đồ sộ bảy phần của Marcel Proust, tính keo kiệt của Simonides, định nghĩa lịch sử của Herodotus, danh sách những từ ngữ tiếng Latin, những câu thành ngữ Trung Hoa, bảng chữ cái Hy Lạp... Khó có thể tìm được trung điểm trong một thế giới tâm thức bung xõa theo mọi hướng của bà. Bà chắc chắn thuộc về loài cáo theo cách chia nhà văn, nhà tư tưởng của Isaiah Berlin - loài cáo thì biết rất nhiều điều, loài nhím thì biết một sự thật lớn.
Ngay cả khi đi vào tận cùng những nỗi đau riêng tư, bà cũng mang theo hành lý, đồ nghề là những nhà tư tưởng, những sử gia, những thần thoại, những nhà văn.
Những đoạn hay nhất trong The Glass Essay (Tiểu luận thủy tinh), bài thơ thuộc tập Glass, Irony, and God (Thủy tinh, Trớ trêu, và Thượng đế), kể về nỗi lòng một cô gái sau khi người yêu rời bỏ, lại là những đoạn nói về cuộc đời Emily Brontë. Ta thấy nhân vật trữ tình đọc nhật ký của Brontë còn nhiều hơn nhớ về mối tình đã mất. Những đoạn hay nhất trong Nox (Đêm), tập thơ về người anh trai xa cách nhiều năm rồi đột ngột qua đời, lại là những đoạn viết về các bộ lạc, các miền đất lạ kỳ mà sử gia Herodotus thu thập trong Historias (Lịch sử), hay những đoạn bà nói về việc dịch thơ của Catullus, nhà thơ La Mã. Còn The Beauty of The Husband (Vẻ đẹp đức lang quân) - tác phẩm gồm 29 phần, được Anne Carson ví như 29 điệu tango về nỗi niềm một người phụ nữ trong cuộc hôn nhân bất hạnh cùng người chồng trăng hoa - thực chất cũng là một diễn giải về thơ John Keats.
Chẳng lẽ cuộc đời thiếu thốn nỗi đau đến mức bà phải không ngừng truy tìm các nguyên mẫu của nó trong văn chương? Có thể là ngược lại, chính vì nỗi đau của thế giới hiện thực trở nên sắc nét không thể chịu nổi, người ta mới phải truy tìm sự hiện diện của nó trong lịch sử nghệ thuật. Nguyễn Du trong những đêm trằn trọc không ngủ được đã "Ám tụng Thiên vấn chương / Thiên cao hà xứ vấn?" (Tụng thầm một áng thơ Thiên vấn / Trời cao dẫu hỏi mấy ai tường?), tức là tìm lại những tâm tình hỏi trời mà trời không đáp nổi của Khuất Nguyên. Dostoevsky trong những năm lao khổ Siberia khư khư giữ một cuốn kinh Tân Ước như báu vật. Khi Boethius chịu án oan, ông đọc lại ai? Đương nhiên, ông đọc lại Socrates, điển mẫu của người chịu án oan. Tôi oan trái, nhưng tôi không phải người duy nhất chịu oan trái trên thế gian. Tôi mang nỗi đau này, nhưng ở một dòng thời gian khác, một người khác - một người cao quý - cũng đã từng mang một tâm sự như thế. Nhân loại chia sẻ chung một khổ đau, ấy là niềm an ủi.
Cho nên, đọc lại, diễn giải lại, viết lại kinh điển, thực ra đó là thực hành của rất nhiều người viết. Họ cũng đi tìm nguyên mẫu ở những người đi trước, không riêng gì Anne Carson.
Một số tác phẩm của Anne Carson. Ảnh: Reuters
Carson không chỉ viết lại kinh điển, đúng hơn, bà đùa nghịch với kinh điển. Kinh điển là khu công viên trò chơi của bà. Bà trượt ống máng thơ ca La Mã, đi tàu siêu tốc huyền thoại Hy Lạp, ngồi đu quay thơ haiku, bước vào nhà gương của các tiểu thuyết gia thế kỷ 20... Trong tác phẩm với tôi là hài hước nhất của bà, Economy of the Unlost (Nền kinh tế của điều đã mất), khám phá các thi sĩ cổ đại viết thơ để đổi lấy giá trị gì, bà không quên chỉ ra rằng thi sĩ Demodokos trong sử thi Odyssey đã được tặng một khúc thịt lợn nhờ thi phẩm của mình ra sao, còn thi sĩ Simonides yêu tiền thế nào. Đó là một ví dụ về sự hài hước của Anne Carson, tạm gọi là hài hước theo chiều ngang, khi bà đặt nhân vật / tác phẩm kinh điển vào những hệ hình tưởng chừng rất xa nhau, như Simonides và quan điểm của Marx về tiền tệ, như Sappho hay Artaud và quyền lực của máy quay, của tivi.
Nhưng cả trong trường phái ấy, bà cũng không phải môn đồ duy nhất. Haruki Murakami cũng đùa nghịch với kinh điển. Ngay trong những dòng văn chuyên nghiệp đầu tiên, ông đã cợt giễu rằng, muốn đọc văn chương nghệ thuật thì phải đọc người Hy Lạp, vì muốn có nghệ thuật thì phải có nô dịch để đóng thuyền, trồng cây để thị dân yên tâm sưởi nắng và viết thơ.
Và việc Anne Carson là một dịch giả tài danh cũng không phải điều chỉ thấy ở bà. Eliot Weinberger có một tập tiểu luận tuyệt hay về 19 bản dịch bài thơ Lộc trại (Trại hươu) của Vương Duy; bản thân ông cũng dịch không ít văn chương kinh điển tiếng Tây Ban Nha. Murakami xét cho cùng cũng là dịch giả, dịch đủ nhiều để có một triết lý dịch thuật riêng.
So sánh như thế không phải để xem có ai xứng đáng đoạt giải hơn Anne Carson không, dù sao Weinberger không nổi tiếng nhờ hư cấu, Murakami thì chắc chỉ được coi là quân bài truyền thông, và Nobel văn học cũng không phải cái rốn của vũ trụ văn chương, ta chỉ nên đọc Nobel văn học như một tham chiếu để nhìn nhận văn chương, xem những nhà văn đương đại quan trọng đang viết gì, viết thế nào.
Nhắc đến dịch thuật ở đây là bởi dịch thuật khiến cho Anne Carson trở thành một cây bút đặc biệt. Nhiều người thậm chí làm quen với Anne Carson qua những bản dịch của bà với kịch Hy Lạp. Trước mỗi vở, bà viết một tiểu luận nhỏ, hoặc một bài thơ - những tác phẩm này luôn mang cảm giác như một phần không thể tách rời của màn diễn.
Tôi sẽ không đọc "tôi ước mình là hai con chó để có thể tự chơi với chính mình", lời tựa của Anne Carson cho bản dịch vở Bakkhai của Euripides như một phần ngoài của tác phẩm, mà sẽ luôn đọc nó như một phần hữu cơ với bản dịch ấy, bản dịch đã bắt đầu từ lời nói đầu / một độc thoại của dịch giả, chứ không phải đợi đến khi vén màn và nhân vật bước vào. Tôi cũng sẽ luôn đọc bản dịch Elektra trong An Oresteia - bộ ba tác phẩm của ba tác giả cổ đại cùng khai thác những câu chuyện quanh gia tộc Atreus - của bà không phải chỉ là sản phẩm của kịch tác gia Sophokles, còn bà là cây cầu bắc đến ông, mà tôi đọc nó như một sáng tạo chung của Sophokles và Anne Carson. Từ vựng về tiếng thét của nàng Elektra trong bản Anh ngữ mang dấu ấn của bà. Tóm lại, dịch thuật là điểm độc đáo của Anne Carson. Nhưng không chỉ riêng bà mới thế.
Tất nhiên, văn chương không phải thương hiệu, nhà văn không phải nhà tiếp thị, nhà văn không có nghĩa vụ phải làm cho mình khác hẳn những người khác, phải nói những thứ chưa ai từng nói, kể những chuyện chưa ai từng kể. Gần như cuốn sách nào của Anne Carson cũng ngập tràn trích dẫn của người khác, bà nội hóa chúng trong tác phẩm của mình. Sự nghiệp văn học của bà bắt đầu từ Eros the bittersweet (Eros: Cay đắng ngọt ngào), mà từ đầu tiên trong ấy là Kafka, câu chuyện đầu tiên trong ấy là một truyện ngắn của Kafka, Con vụ (Der Kreisel). Một chương trong Autobiography of Red (Tự truyện của Đỏ), bà dành để dịch những mẩu thơ của Stesichoros, một trong "cửu đại thi nhân trữ tình" Hy Lạp. Điều ấy cũng không lạ trong văn chương đương đại. Mỗi năm nhắc đến Nobel, người ta cũng nhắc tới Gerald Murnane, và Murnane không những trích dẫn người khác, ông còn từng kết thúc tiểu thuyết của mình bằng trích dẫn của người khác.
Sự độc tôn, sự riêng biệt, sự cá thể hóa, sự khẳng định cái tôi không hẳn là đích cùng của văn chương. Chiến thắng của Anne Carson năm nay là một chiến thắng tôn vinh thứ văn chương tôn vinh văn chương. Bà viết Nox không phải để khẳng định rằng bà có thể nói về nỗi đau mất đi người anh hay hơn một nhà thơ La Mã, bà viết để nói rằng bà không thể viết hay hơn thế, trong sự khiêm nhường ấy ta thấy tinh thần đích thực của văn chương.
Đến đây, cần nói rằng, cấu trúc trong các tác phẩm của Anne Carson, nếu đọc kỹ, ta luôn thấy có ba đỉnh. Lấy ví dụ, Autobiography of Red, một tiểu thuyết bằng thơ tái dựng lại kỳ công Hercules cướp đàn bò của quái vật với đôi cánh đỏ Geryon trong thần thoại, gồm ba đỉnh: 1/ tích Hy Lạp, 2/ thế giới hiện đại với máy ảnh và xe hơi, 3/ những trò chơi ngôn ngữ. Nhân vật thần thoại sống trong thế giới hiện đại, nhưng những đặc điểm thần thoại của họ không bị triệt tiêu hay thế tục hóa hoàn toàn, và câu truyện lại bị kẹp trong những trò chơi của bà: một bài phỏng vấn Stesichiros, một bài tập logic học về Stesichoros, một bài luận ngắn về tính từ. Phần hai của nó là Red doc > (Bản thảo Đỏ >) lại gồm ba đỉnh: 1/ tích Hy Lạp, 2/ chiến tranh hiện đại, 3/ mô phỏng dàn đồng ca Hy Lạp. The Anthropology of Water (Nhân học về nước), một tác phẩm có thể đứng độc lập trong Plainwater (Nước lọc), lại có ba đỉnh là 1/ du ký (hai cuộc), 2/ thi ca Nhật Bản, 3/ tự sự về người cha mất trí. Tương tự, bạn có thể tìm thấy cấu trúc này ở nhiều tác phẩm khác của bà.
Tại sao lại là ba đỉnh? Có lẽ, chỉ có lẽ thôi, như trong Eros the bittersweet, viên gạch đầu tiên trong hệ thống tác phẩm của Carson, một tiểu luận dẫn từ tâm lý của người tình đến thực hành đọc và viết, từ bản chất của ái tình đến khao khát tri thức, bà nói rằng đó là những trải nghiệm giống nhau, chúng đều có cấu trúc tam giác với ba đỉnh: người yêu (người đọc) / người được yêu (người viết) / những gì ngăn cản họ (văn bản, bởi "những từ ta đọc và những từ ta viết không bao giờ thể hiện đúng điều ta muốn nói"). Với bà, đó là "thiết kế tam giác cần thiết, và nó đại diện cho khát vọng vươn đến những gì chưa biết."
Đến tiểu luận Decreation (Giải sáng tạo), bà lại phát triển tiếp ý tưởng ấy với một phân tích về ba nữ văn nhân Sappho, Marguerite Porete, và Simone Weil, trong đó Weil là người nhận ra rằng để có một tình yêu hoàn hảo với Đấng Hằng Hữu, ta phải biến ba đỉnh thành hai đỉnh, ta phải biến mất trong quá trình "giải sáng tạo" (decreation), ta phải "hủy bỏ tạo vật bên trong chúng ta", ta phải rút lui để không chen vào giữa hai người đang yêu nhau - Thiên Chúa và muôn loài, đó là cách để ta tham gia vào công cuộc sáng tạo thế giới.
Thế rồi, Anne Carson sớm nhận ra sự mâu thuẫn ở đó. Người cầm bút có thể thật sự biến mất hay thu gọn cái tôi không? Vì "trở thành nhà văn nghĩa là dựng nên một cái tôi to lớn, ồn ào và tráng lệ, một trung tâm mà từ đó tác phẩm cất lời". Viết văn là đặt dấu vân tay lên thế giới. Tác giả khó có thể vừa viết, vừa vắng mặt trong tác phẩm của mình.
Nhưng có lẽ Anne Carson đã luôn cố gắng làm như thế. Viết không để tôn vinh nỗi đau của mình, lựa chọn của mình, cái đẹp của mình. Bà viết để giải thể cái tôi.
---
* Các trích dẫn trong bài đều do tác giả dịch từ tiếng Anh.