Độc giả yêu văn chương hẳn không xa lạ với Papillon - tiểu thuyết mang nhiều yếu tố tự truyện của nhà văn có máu giang hồ Henri Charrière. Trong cuốn tiểu thuyết làm nên tên tuổi đời mình, H. Charrière kể về hành trình vượt ngục Guyane táo tợn và đầy thử thách của gã tù yêu tự do Papillon. Cuốn sách nhanh chóng nổi tiếng, được độc giả tìm đọc bởi sự ngưỡng mộ tinh thần dũng cảm của con người khi lâm vào cảnh oan ức và phần nào vì tính hiếu kỳ khi Guyane được mệnh danh là "địa ngục xanh", chỉ có đi chứ không có về.
Bởi vậy, sự kiện một nhóm tù nhân chính trị Việt Nam vượt ngục Guyane thành công năm 1917 - chủ đề công trình khảo cứu của Đỗ Thái Bình - có thể xem là một kỳ tích đồng thời là ký ức không mấy vui vẻ với những nhà cai trị thực dân. Trước đó, họ luôn tự mãn về khả năng bóp nghẹt ý chí và thân xác con người của chốn nhà lao rừng thiêng, nước độc này. Rất tiếc, phải đến thập niên 1960, hơn 40 năm sau khi cuộc vượt ngục diễn ra thành công, những nghiên cứu đầu tiên về đề tài thú vị này mới được thực hiện.
![]() |
Trải qua sáu chương sách, Đỗ Thái Bình đã cố gắng phục dựng đời sống của người tù biệt xứ Việt Nam, với ba nhân vật trung tâm là Nguyễn Quang Diêu, Lý Liễu và Đỗ Văn Phong. Hồng Đặng |
Cho đến nay, nhiều giả thuyết và bí ẩn xung quanh cuộc vượt ngục của nhóm chính trị phạm này vẫn đang tiếp tục làm đau đầu nhiều nhà nghiên cứu. Trong nỗ lực mới nhất, Đỗ Thái Bình đã cố gắng tập hợp, khảo chứng một lượng tài liệu lớn kết hợp điền dã thực địa nhằm dựng nên một bức tranh toàn cảnh về hải trình lưu đày đến Guyane mà nhóm tù Việt Nam đã trải qua và cuộc đào thoát của họ khỏi địa ngục trần gian này.
Ba nhân vật trung tâm của cuốn sách là các nhà nho Nguyễn Quang Diêu, Lý Liễu và Đỗ Văn Phong. Họ bị thực dân Pháp bắt và đưa ra xét xử trong vụ án Việt Nam Quang Phục hội (tổ chức cách mạng do Phan Bội Châu đề xướng, yêu sách khôi phục chủ quyền cho Việt Nam và quyết dùng bạo động để gây tiếng vang trong dân chúng) mở từ ngày 29/8/1913, kéo dài suốt một tuần lễ. Ngày 5/9/1913, họ nhận bản án đày biệt xứ tại Guyane. Vào năm 1917, cả ba người đã vượt ngục cùng tám đồng chí khác.
Nhờ nỗ lực riêng lẻ từ nhiều nhà nghiên cứu tiền nhiệm như Nguyễn Văn Hầu, Phan Lương Minh, Lorraine M. Paterson cho đến Đỗ Thái Bình, chân dung và cuộc đời họ đã được sưu tầm khá hoàn chỉnh. Ngoài ra, Đỗ Thái Bình đã bổ sung, chỉnh lý nhiều tư liệu quý về số phận của hàng nghìn người tù Việt Nam bị đày biệt xứ tại đảo Guyane mà trước đó tưởng như đã bị lãng quên bởi thác, ghềnh lịch sử.
Trải qua sáu chương sách và phần phụ lục dày dặn, Đỗ Thái Bình đã cố gắng phục dựng đời sống của người tù biệt xứ Việt Nam. Theo đó, ngay từ khi rời bến cảng Hải Phòng, họ đã phải đối mặt với hiểm nguy đầu tiên từ những con tàu chở phạm được mệnh danh là "nhà tù di động". Chúng được thiết kế với mục đích duy nhất là nhồi nhét thật nhiều tù nhân cũng như ra những cú đánh phủ đầu tra tấn tinh thần của họ.
Trên thực tế, theo khảo cứu của Đỗ Thái Bình, một số tù nhân Việt Nam đã không thể vượt qua chuyến hải trình kéo dài hàng nghìn km với vô vàn sóng gió này. Là tù nhân đến từ Đông Dương, họ không được tạm giam tại nhà tù trung chuyển St Martin nằm trên đảo Ré – nơi có sự cải thiện về y tế thăm khám và bữa ăn. Thế vào đó, họ bị giam tại trại tập trung ở Maison – Carrrée, Algeria (nay là El Harach, Algeria). Tại đây, họ bị phân loại. Những trọng phạm như Nguyễn Quang Diêu, Lý Liễu và Đỗ Văn Phong bị chuyển tới Guyane – hòn đảo ngục tù.
Trái với những gì bạn đọc hình dung, Guyane không phải là một pháo đài kiên cố với hệ thống giám thị, an ninh nghiêm ngặt. Nhưng nó vẫn đủ sức đàn áp tù nhân bởi rừng và biển. Những viên sen đầm tự nhiên này rất hiệu quả trong việc đánh gục ngay cả những tội phạm cứng đầu nhất. Bên cạnh đó, những công chức và giám thị trên đảo Guyane cũng rất giỏi hành hạ tù nhân, bằng cách tham nhũng nhu yếu phẩm, ép họ lao động nặng nhọc trong điều kiện thiếu thốn, mất an toàn. Tình trạng này dẫn đến những cuộc vượt ngục diễn ra thường xuyên tại Guyane. Từ thống kê chưa đầy đủ, Đỗ Thái Bình cho biết có khoảng 9.000 cuộc vượt ngục đã được tổ chức tại "địa ngục xanh", nhưng phần lớn đều thất bại. Tù nhân nhanh chóng bị bắt lại hoặc bị biển xanh vùi lấp trong những cơn sóng dữ trước khi tới được các hòn đảo tự do cách đó hàng nghìn cây số như trường hợp cá biệt của Papillon.
Bất chấp thực tế đó, Guyane dường như không thể khuất phục ý chí của những tù nhân Việt Nam. Những tù nhân Việt Nam được trả tự do trên đảo đã xây dựng những ngôi làng kiểu Việt Nam, hành nghề đánh cá, mang những món ăn quê hương đến xứ nhiệt đới và quan trọng hơn là phối hợp cộng đồng Hoa kiều thiết lập một hệ thống vượt ngục cho những người đồng bào của mình. Đó là tiền đề để Lý Liễu và những người đồng chí cùng số phận của anh tạo ra cuộc đào tẩu tưởng như táo bạo nhưng thực tế đã được chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng vào năm 1917. Họ không dại dột lựa chọn hải trình đi qua các hòn đảo của phạm nhân bị hủi, tìm dòng hải lưu đến Venezuela như Papillon mà tạo cho mình một danh phận an toàn là Hoa kiều. Họ chọn những điểm đến là nơi cộng đồng này quần tụ đoàn kết và tương trợ thân thiết với người Việt. Điểm đến đầu tiên trên hành trình vượt thoát của họ là Trinidad và Tobago, thời điểm đó là thuộc địa của Anh. Từ miền đất này, họ tìm cách vượt thoát sang New York với thân phận kẻ di dân, trở về Hương Cảng, tìm đường qua Trung Quốc về Nam kỳ.
Dù đã định ra một kế hoạch chi tiết như vậy, không phải người tù nào trong số họ cũng có thể thoát thân ngay trong lần thử thách đầu tiên. Trong ba người tù được Đỗ Thái Bình đề cập, Lý Liễu phải mất đến lần thứ hai mới có thể đào thoát cùng các đồng chí của ông. Lý Liễu cũng là nhân vật đến nay còn tốn rất nhiều giấy mực tranh luận giữa các học giả nghiên cứu về thân phận của mình. Có nhiều học thuyết mà sớm nhất là Nguyễn Văn Hầu cho rằng ông đã hi sinh tại nhà lao Côn Đảo trong thập niên 1930, 1940 sau khi bị thực dân Pháp một lần nữa bắt giữ tại Việt Nam. Nhưng một số nhà báo, nhà nghiên cứu như Nguyễn Ngọc, Phan Lương Minh và mới đây là Đỗ Thái Bình trong quá trình điền dã lại chứng minh được rằng Lý Liễu đã sống sót, vượt qua những ngày thụ án tại Côn Đảo, tiếp tục hoạt động cách mạng dưới tên gọi Lý Phùng Xuân đến khi qua đời. Tuy không phải là đảng viên cộng sản, Lý Liễu vẫn là một quần chúng yêu nước nhiệt thành. Trước khi mất, ông được chính quyền cách mạng phân công về xã An Phước gây dựng phong trào, là vùng giải phóng của Bến Tre trong thập niên 1960.
Ngày nay, dấu ấn và sự hiện diện của người Việt tại Guyane vẫn tương đối rõ nét. Nó nằm ngay trong tên gọi của nhiều địa danh nằm rải rác trên hòn đảo này từ khu nhà tù Việt Nam – trại Suối Lươn, Làng người Hoa (Village Chinois – cái tên xuất phát từ sự nhầm lẫn của cư dân địa phương về nguồn gốc ngôi làng này), món phở, nghề đánh bắt cá. Hậu duệ của một số người Việt Nam từng bị tù đày tại Guyane vẫn tiếp tục lưu giữ những nét văn hóa, truyền thống của ông cha trên xứ sở khắc nghiệt. Trong cuốn sách của mình, Đỗ Thái Bình đã dành rất nhiều trang viết và hình ảnh mô tả quá trình thực địa của ông tại Guyane, nhằm lột tả sức sống ngoan cường, vượt lên nghịch cảnh của những tù nhân Việt Nam bị đọa đày nơi đây.
Mặc dù là một nghiên cứu công phu, Ba người vượt ngục Guyane không tránh khỏi những hạn chế, do tác giả muốn truyền tải quá nhiều chủ đề - từ phong trào yêu nước của người Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đến các khía cạnh khác như sự ra đời và phát triển của nhà xuất bản Mai Lĩnh, các tác phẩm văn học, nghệ thuật yêu nước. Tác giả cũng dành một lượng lớn chuyên khảo để nghiên cứu về hệ thống nhà tù của Pháp, những con tàu chuyên chở phạm v.v. Chính việc này đã khiến Ba người vượt ngục Guyane chưa thực sự liền mạch, gây ít nhiều khó khăn cho các độc giả trong quá trình đọc tác phẩm. Bỏ qua những điểm yếu đó, Ba người vượt ngục Guyane vẫn là một tác phẩm hấp dẫn về một sự kiện li kì, gần như có một không hai trong lịch sử.
Bài đăng KH&PT số 1356 (số 32/2025)
Hải Triều
