Trong bài phỏng vấn trước, Tia Sáng đề cập góc nhìn coi điện rác như một giải pháp đầy sức hút: làm cho rác thải biến mất nhanh chóng, đồng thời lại đem tới lợi ích tái tạo là phát điện. Tuy nhiên, chính sự ưu việt bề ngoài từ điện rác có thể làm triệt tiêu động lực phân loại rác tại nguồn của các đô thị.
Trong bài phỏng vấn này, chúng tôi có cuộc trò chuyện với TS Quách Thị Xuân, trưởng đại diện Tổ chức Môi trường Thái Bình Dương (Pacific Environment) tại Việt Nam, điều phối viên Liên minh Không rác Việt Nam (VZWA), nhằm phân tích sâu hơn về mối liên hệ giữa điện rác với quản lý và phân loại rác thải.
TS. Quách Thị Xuân.
'CHUYỂN' RÁC LÊN KHÔNG TRUNG
Phóng viên: Điện rác có bản chất là tạo ra điện từ quá trình đốt rác. Dưới góc độ tác động môi trường, bà đánh giá về lựa chọn này như thế nào?
TS. Quách Thị Xuân: Hiện có các luồng quan điểm khác nhau về vấn đề này. Đối với các nhà môi trường như chúng tôi, đốt rác là cách gây nhiều hệ lụy nhất để quản lý chất thải, còn tệ hơn cả bãi chôn lấp. Việc ô nhiễm nước ngầm từ các bãi chôn tro xỉ sau khi đốt có khả năng nghiêm trọng hơn so với bãi chôn rác chưa đốt, vì các kim loại độc hại dễ phát tán và thẩm thấu vào môi trường. Đồng thời quá trình đốt còn tạo ra thêm các chất ô nhiễm mới.
Đốt rác thường bị ví như việc ‘chuyển bãi rác từ mặt đất lên không trung’. Trong ảnh: Ô nhiễm ở bãi rác Tây Bắc TP HCM, chụp vào tháng 7/2023. Tác giả: Đinh Văn/VnExpress
Dù chôn lấp rác hỗn hợp vẫn tạo ra khí metan – một loại khí nhà kính mạnh gấp 80 lần CO2 trong việc làm Trái Đất nóng lên ở giai đoạn 20 năm đầu – nhưng lượng khí này vẫn có thể được thu hồi, chuyển hóa. Carbon trong rác thải cũng có thể được giữ lại trong bãi chôn lấp. Vấn đề với các bãi chôn lấp là chúng ta phải có động lực giữ cho các bãi chôn lấp sạch sẽ, hợp vệ sinh. Thực tế tính đến năm 2018, chưa đầy 20% các bãi chôn lấp rác là hợp vệ sinh.
Trong khi đó, đốt rác thường bị ví như việc ‘chuyển bãi rác từ mặt đất lên không trung’. Chất thải bị đốt sẽ phát tán vào không khí dưới dạng khí thải, bao gồm cả CO2 và các chất độc hại như furan, dioxin. Việc kiểm soát ô nhiễm dưới mặt đất vốn đã khó, nhưng kiểm soát phát thải trong không khí còn khó hơn nhiều. Chính vì vậy, phương án đốt rác vẫn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi.
Một phân tích của GAIA công bố năm 2021 cho thấy, việc đưa "đốt rác phát điện" vào danh mục giảm phát thải đang phản tác dụng đối với mục tiêu khí hậu của Việt Nam trong kế hoạch Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC). Các nghiên cứu quốc tế đã chứng minh, đốt một tấn rác đô thị sẽ thải ra 1,7 tấn CO2 vào khí quyển. Đáng chú ý, nồng độ các chất gây ô nhiễm như CO, NOx, SO2 và kim loại nặng (chì, thủy ngân, cadimi) từ loại hình này thậm chí còn vượt xa nhà máy nhiệt điện than, nếu tính trên cùng một đơn vị điện năng.
Các lò đốt rác được xác định là nguồn lớn nhất sinh ra dioxin. Mặc dù các nhà máy điện rác hiện đại có thể triệt tiêu việc hình thành dioxin bằng cách đốt ở nhiệt độ cực cao (trên 850°C) đi kèm quy trình làm lạnh nhanh, nhưng không phải lúc nào các nhà máy cũng duy trì được mức nhiệt lý tưởng này một cách ổn định.
So sánh phát thải các khí ô nhiễm từ lò đốt rác và đốt than. Đồ họa: Ngô Hà
Nếu nhiệt độ buồng đốt giảm xuống thấp, đặc biệt khi xử lý các loại rác thải chứa nhựa PVC hoặc clo, quá trình này sẽ sản sinh ra một lượng lớn dioxin đặc biệt nguy hiểm đối với sức khỏe con người và môi trường.
Một số nhà máy điện rác hiện đại ở Việt Nam đã có thể thu giữ dioxin tương đối hiệu quả, nhưng khâu xử lý triệt để hóa chất này vẫn là một bài toán đắt đỏ. Do vậy, họ chỉ có thể thu gom chúng lại một chỗ và cách ly, chờ một lúc nào đó trong tương lai đủ nguồn lực để xử lý.
Nhiệt độ hình thành dioxin
Dioxin hình thành nhiều nhất khi đốt rác ở nhiệt độ thấp, khoảng 250°C – 400°C. Quá trình này đặc biệt nguy hiểm khi đốt lộ thiên hoặc lò đốt rác kém chất lượng, nơi thiếu oxy và nhiệt độ không ổn định.
Nhiệt độ cao > 850°C - 1000°C có thể phân hủy dioxin, nhưng nếu làm nguội chậm, dioxin có thể tái hình thành.
Để tránh những hệ lụy của giải pháp đốt rác hỗn hợp như vậy, cách làm đúng là gì, thưa bà?
Trong một chuỗi quản lý rác lý tưởng theo hướng không rác thải Zero Waste, quy trình phải đi theo phương châm "ưu tiên phòng ngừa".
Thay vì loay hoay xử lý phần ngọn, chúng ta cần ưu tiên ngăn ngừa rác phát sinh ngay từ đầu thông qua việc thiết kế lại sản phẩm - Redesign - theo hướng giảm thiểu vật liệu/bao bì hoặc tăng khả năng tái chế, sau đó là nỗ lực giảm tiêu dùng không cần thiết - Reduce - và tái sử dụng - Reuse - nhằm kéo dài vòng đời sản phẩm.
Sau khi đã áp dụng triệt để các giải pháp phòng ngừa, chúng ta mới tính đến các biện pháp "chống - giải quyết phần chất thải chưa tránh được" như phân loại, thu gom và tái chế.
Khi rác thải không thể tái chế được nữa, chúng ta sẽ đem chôn lấp. Và khi không thể chôn lấp, ta mới dùng đến giải pháp cuối cùng là đốt rác - dù là đốt rác phát điện hay đốt rác thiêu hủy.
Hệ thống phân cấp xử lý rác thải theo khuyến nghị Zero Waste. Đồ họa: Ngô Hà
Việt Nam có đang thực hiện đúng theo quy trình chuẩn này không?
Việt Nam đã có các quy định tương đối đầy đủ về phân loại và quản lý chất thải. Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động xử lý rác vẫn chủ yếu dựa vào thu gom và chôn lấp, trong khi phân loại tại nguồn chưa được triển khai rộng rãi.
Chúng ta đang gặp phải sự thiếu đồng bộ ở cả ba mắt xích: chính sách, người dân và doanh nghiệp. Quy định về phân loại rác đã được ban hành, cụ thể ở Điều 75 trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, nhưng việc triển khai ở địa phương còn hạn chế, ngay cả khi hạn chót 2024 đã qua.
Điều này liên quan đến một chính sách khác về chi ngân sách cho công tác bảo vệ môi trường. Hiện nay, chi cho bảo vệ môi trường của Việt Nam mới chiếm khoảng 1% GDP, mức khiêm tốn so với con số 2-3% cần thiết để tạo ra sự thay đổi. Sự thiếu hụt nguồn lực này trực tiếp dẫn đến hệ quả là hạ tầng thu gom và xử lý rác phân loại vẫn chỉ nằm trên giấy vì không có kinh phí đầu tư đồng bộ.
Đa số tỉnh thành của Việt Nam đang không phân loại rác hiệu quả. Động lực phân loại và tái chế của cộng đồng có thể bị triệt tiêu khi người dân nghĩ rằng họ không cần phải phân loại bởi đã có công nghệ đốt rác hỗn hợp giải quyết mọi vấn đề. Doanh nghiệp tái chế nhận thấy rằng khi các loại chất thải bị trộn lẫn, những vật liệu có thể tái chế hoặc tái sử dụng sẽ bị nhiễm bẩn bởi chất thải hữu cơ, làm giảm mạnh - thậm chí mất hoàn toàn giá trị - đồng thời đẩy chi phí tái chế tăng cao, khiến họ chưa đầu tư mạnh vào lĩnh vực này.
Bên cạnh đó, cơ chế 'trả phí theo khối lượng rác' chôn lấp hiện nay vô hình trung lại khuyến khích các đơn vị thu gom và xử lý đổ rác ra bãi chôn lấp, thay vì thu gom và xử lý riêng. Họ không có nhiều lý do để đầu tư cho hệ thống tiếp nhận rác đã phân loại như tăng cường nhân sự thu gom, bổ sung xe rác và thùng rác riêng...
Ở chiều ngược lại, cũng chưa có nhiều doanh nghiệp tư nhân chuyên xử lý rác hữu cơ vì khó tiếp cận nguồn rác hữu cơ sạch và thiếu các chính sách ưu đãi phù hợp.
Khi rác không được phân loại ngay từ đầu, các phương án xử lý phía sau, bao gồm cả điện rác, đều gặp những hạn chế nhất định. Công nghệ tiên tiến này xuất hiện trong một hệ thống đã "lệch". Đáng lẽ ra, đây phải là giải pháp cuối cùng, nhưng lại bị đẩy lên đầu tiên.
SỰ PHỤ THUỘC NHIỀU HỆ LỤY
Như vậy, một khi đã lựa chọn và ỷ lại vào điện rác, đặc biệt là những công nghệ xử lý được tất cả các loại rác hỗn hợp, chúng ta sẽ mất đi động lực để phân loại?
Một số nhà máy điện rác hiện đại ở Việt Nam đã có thể thu giữ dioxin tương đối hiệu quả, nhưng khâu xử lý triệt để hóa chất này vẫn là một bài toán đắt đỏ. Trong ảnh: Khu điều hành nhà máy điện rác Nam Sơn, Hà Nội (bên trái) và những ống khói xả thải (bên phải). Tác giả: Ngô Hà
Đúng vậy, ngoài ra một điểm đáng chú ý là các quyết định đầu tư hạ tầng xử lý rác có thể tạo ra những ràng buộc dài hạn. Khi một tỉnh hoặc thành phố đã chọn xử lý rác bằng cách đốt, thì động lực phân loại rác sẽ giảm đi. Lý do là chính quyền thường sẽ ký hợp đồng cam kết cung cấp một lượng rác nhất định cho các nhà máy đốt. Nếu thực hiện phân loại rác (tách rác tái chế và rác hữu cơ) thì lượng rác còn lại để đốt chỉ còn khoảng 20–30%, có thể không đủ để đáp ứng cam kết ban đầu với doanh nghiệp đốt rác.
Vì chi phí đốt rác là cao nhất so với các giải pháp còn lại, lên tới 30-50 USD/tấn, theo ước tính vào năm 2018 của World Bank, một số thành phố trên thế giới rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan: không phân loại rác thì phải trả nhiều tiền để đốt rác hỗn hợp, còn phân loại thì phải trả tiền phạt do không đáp ứng đủ số lượng theo hợp đồng.
Phải chăng chính cơ chế 'càng nhiều rác, càng nhiều tiền' đang triệt tiêu động lực chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn?
Nhật Bản từng được coi là vương quốc của những lò đốt rác, nhưng đây cũng chính là lý do khiến tỷ lệ tái chế của quốc gia này thấp kỷ lục trong khối OECD, chỉ duy trì ở mức khoảng 20%.
Việc quá phụ thuộc vào công nghệ thiêu hủy đã vô tình tạo ra những hệ lụy nghiêm trọng về sức khỏe và môi trường. Ngay từ năm 1983, các nghiên cứu y tế tại Nhật Bản đã gây sốc khi phát hiện dư lượng dioxin trong sữa mẹ của phụ nữ sống gần các khu vực lò đốt.
Đây là kết quả của việc đốt rác, đặc biệt là ở các lò đốt không đảm bảo các tiêu chuẩn môi trường, giải phóng các hợp chất hữu cơ độc hại vào không khí và chuỗi thức ăn. Dioxin là hóa chất nhân tạo độc hại nhất đối với sức khỏe con người mà chúng ta đã thấy trong chiến tranh Việt Nam.
Trước những bằng chứng về tác động sức khỏe, một làn sóng phản đối mạnh mẽ đã bùng phát khắp xứ sở mặt trời mọc. Người dân liên tục biểu tình và kiến nghị yêu cầu chính phủ thay đổi tư duy xử lý chất thải.
Kết quả của cuộc chuyển đổi này là số lượng lò đốt rác trên toàn nước Nhật đã giảm: cứ bốn lò đốt rác thì đã có một lò "biến mất" sau chưa đầy 20 năm. Hiện Nhật Bản còn khoảng 1.000 lò đốt rác lớn nhỏ đang hoạt động, 40% trong số đó là đốt rác phát điện bằng các công nghệ tiên tiến.
Thay vì kiên trì đốt bỏ, Nhật Bản đã chuyển hướng sang mô hình phân loại tại nguồn cực kỳ nghiêm ngặt để tối ưu hóa việc tái chế và giảm thiểu rác thải phát sinh.
Đây là bài học đắt giá cho các quốc gia đang phát triển, rằng việc đầu tư quá mức vào công nghệ đốt rác mà bỏ qua khâu phân loại không chỉ triệt tiêu ngành công nghiệp tái chế mà còn tiềm ẩn nguy cơ đe dọa sức khỏe cộng đồng qua nhiều thế hệ.
Động lực phân loại và tái chế của cộng đồng có thể bị triệt tiêu khi người dân nghĩ rằng họ không cần phải phân loại bởi đã có công nghệ đốt rác hỗn hợp giải quyết mọi vấn đề. Ảnh: VnExpress
BÀI TOÁN CẦN TÍNH ĐÚNG, TÍNH ĐỦ
Như vậy, điện rác không phải là "món hời" như nhiều người có thể nghĩ?
Nếu học kinh tế, ta sẽ phân biệt được rõ đâu là lợi nhuận tài chính và đâu là lợi nhuận kinh tế.
Lợi nhuận tài chính là thứ gắn với nhà đầu tư. Họ phải bỏ vốn xây dựng hạ tầng và thu hồi vốn thông qua một số kênh như phí xử lý chất thải theo khối lượng rác đầu vào; doanh thu bán điện tạo ra; doanh thu bán các sản phẩm phụ từ quá trình đốt rác như tro xỉ đáy lò làm vật liệu xây dựng, vật liệu san lấp.
Lợi nhuận ròng của nhà đầu tư được xác định bằng tổng các nguồn thu này trừ đi chi phí khấu hao và vận hành hệ thống. Nhìn chung, các doanh nghiệp xử lý sẽ có động lực muốn đốt nhiều chất thải hơn, tạo ra nhiều điện hơn, nhiều tro xỉ hơn để thu về nhiều tiền hơn. Họ thường sẽ bắt tay làm khi có lợi. Và điện rác rõ ràng là một món lợi khi nhiều nhà đầu tư đang ra sức quan tâm.
Trong khi đó, lợi ích kinh tế thường gắn với chính quyền thành phố và cộng đồng người dân. Các lợi ích chính mà thành phố thu về bao gồm: giảm đáng kể khối lượng rác phải chôn lấp, tới 95% khối lượng, kéo dài tuổi thọ bãi rác. Số tiền mà thành phố phải bỏ ra chỉ là giá thành trên mỗi tấn rác để xử lý – khoảng 400.000-500.000 đồng/tấn – nghe có vẻ hợp lý so với những lợi ích kể trên.
Tuy nhiên, số tiền này chỉ là bề nổi. Có một loại chi phí khác ít được nhắc đến là chi phí ngoại ứng, tức những thiệt hại mà xã hội phải gánh chịu nhưng không được tính vào giá thành sản phẩm.
Đó có thể là những ngoại ứng từ phát thải khí nhà kính góp phần làm trầm trọng hơn tình trạng biến đổi khí hậu, hoặc những chất thải như dioxin dù với nồng độ nhỏ nhưng vẫn có thể gây ảnh hưởng tới sức khỏe - gồm cả sức khỏe sinh sản và đời sống của người dân xung quanh nhà máy.
Chỉ khi tính toán đầy đủ các yếu tố này, ta mới có thể đánh giá được chính xác vai trò của điện rác trong hệ thống quản lý chất thải.
Nếu phải gói lại trong một thông điệp ngắn, bà sẽ nói gì về điện rác?
Điện rác là một trong nhiều công cụ trong quản lý chất thải, nhưng phù hợp hơn ở giai đoạn xử lý cuối cùng, khi rác đã đi qua những bộ lọc kỹ lưỡng từ giảm thiểu, phân loại cho đến tái chế.
Nếu các tỉnh thực sự muốn xử lý rác hiệu quả và xem điện rác như một hướng đi nghiêm túc, thì có lẽ cần bắt đầu từ những tính toán thấu đáo và cách làm bài bản ngay từ đầu: đưa ra quy định rõ ràng và thực thi thưởng-phạt nghiêm minh; đầu tư thích đáng cho hạ tầng thu gom, xử lý rác và đặc biệt là xây dựng thói quen phân loại rác tại mỗi gia đình. Khi những mắt xích này vận hành trơn tru, câu chuyện rác thải sẽ bớt áp lực, và điện rác cũng có cơ hội phát huy đúng vai trò của nó.
Mỗi quyết định về điện rác không nên chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt, mà cần cân nhắc đầy đủ cả ba mặt kinh tế, môi trường và xã hội. Bởi thực tế, chọn công nghệ nào mà không tính hết các chi phí đi kèm, thì sớm hay muộn, phần "thiếu" đó cũng sẽ quay lại - và người gánh cuối cùng thường vẫn là người dân.
Trân trọng cảm ơn bà đã có những chia sẻ thiết thực.
Ngô Hà thực hiện