Các nhà máy điện rác thế hệ mới có vẻ ngoài sạch sẽ, hiện đại. Trong ảnh: Nhà máy điện rác Sóc Sơn tại Khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn, do Công ty Cổ phần Môi trường Năng lượng Thiên Ý (100% vốn Trung Quốc) đầu tư và vận hành, với tổng mức đầu tư 7.500 tỷ đồng, tháng 3/2026. Ảnh: Hoàng Yến
Tuần trước, Tia Sáng có bài viết đề cập việc Trung Quốc đang đẩy mạnh xuất khẩu công nghệ đốt rác phát điện (waste-to-energy - WTE) sang các thị trường mới ở châu Á và châu Phi, trong đó Việt Nam nổi lên như thị trường số một.
Điện rác có nhiều ưu điểm hấp dẫn khá dễ thấy: các nhà máy điện rác có vẻ ngoài sạch sẽ, hiện đại; có thể xử lý rác chưa phân loại; khói đầu ra đạt chuẩn châu Âu... Tuy nhiên, từng đó ưu điểm chưa đủ để gạt bỏ mọi băn khoăn về công nghệ xử lý rác này.
Kỹ sư Đào Nhật Đình, thành viên Hội đồng khoa học của tạp chí Năng lượng Việt Nam, chia sẻ góc nhìn về vai trò của các nhà máy điện rác trong bối cảnh năng lượng-môi trường Việt Nam.
Cái lý của điện rác
Phóng viên: Ngay từ cái tên, điện rác có thể khiến nhiều người nghĩ nó là một nguồn năng lượng. Liệu cách hiểu đó có chính xác không, thưa ông?
Kỹ sư Đào Nhật Đình, thành viên Hội đồng khoa học của Tạp chí Năng lượng Việt Nam. Ảnh: NVCC
Kỹ sư Đào Nhật Đình: Cần phải nói thẳng, điện rác trước hết là công nghệ xử lý chất thải chứ không phải công nghệ sản xuất năng lượng. Điện chỉ là sản phẩm phụ.
Từ trước đến giờ, chúng ta vẫn đốt rác nhưng là đốt thuần túy để thiêu hủy rác. Gần đây mới có các nhà máy đốt rác nhằm thu hồi năng lượng – tức là lấy nhiệt lượng từ việc đốt rác để làm nóng lò hơi nước, làm quay tuabin phát điện.
Ở châu Âu cũng có các nhà máy điện rác, nhưng rác của họ thường có chất lượng tốt như sinh khối (gỗ thải), tỷ lệ thu hồi đâu đó khoảng 25-30% năng lượng có trong rác. Nhưng Việt Nam mình thì khác, rác của chúng ta là rác hỗn hợp, không được phân loại tại nguồn và có độ ẩm cao, nên giá trị nhiệt thấp. Những chất không thể cháy được trong hỗn hợp rác cũng bị làm nóng lên trong quá trình đốt nên rất tốn năng lượng. Điều này khiến hiệu suất phát điện giảm còn dưới 20%.
Mỗi tấn rác có thể tạo ra từ 300 - 600 kWh điện, tùy công nghệ và thành phần cháy được của rác cũng như độ ẩm của rác đầu vào. Lượng điện này đủ cung cấp cho một hộ gia đình có sử dụng điều hòa, bình nóng lạnh, máy móc hiện đại dùng trong một tháng, nghĩa là rất ít.
Trên thực tế, tổng công suất phát điện của các nhà máy điện rác ở Việt Nam hiện nay chỉ loanh quanh khoảng 100MW, tức đủ cung cấp cho một khu công nghiệp loại nhỏ. Nó chiếm chưa đến 0,1% tổng công suất của hệ thống điện Việt Nam.
Mỗi ngày, người dân chúng ta thải ra khoảng 70.000 tấn rác sinh hoạt. Giả sử toàn bộ lượng rác này được đốt hết để phát điện thì lượng điện tạo ra cũng chỉ đáp ứng được 3-4% nhu cầu tiêu thụ cả nước. Do vậy, về mặt năng lượng, đây không phải là một nguồn đáng nói.
Nghĩa là người ta theo đuổi điện rác vì nó xử lý rác hiệu quả hơn là vì giá trị phát điện?
Điện rác giống như "van xả áp" cho bài toán rác đô thị. Nó giải quyết một vấn đề nhìn thấy ngay là làm cho rác biến mất.
Điện rác giống như "van xả áp" cho bài toán rác đô thị ở Việt Nam. Trong ảnh: Người thu gom vật liệu tái chế tại bãi rác Khánh Sơn, Đà Nẵng năm 2023. Tác giả: Minh Đức/Flickr/USAID Urban.
Trước đây chúng ta hay nghe đến người dân ở gần bãi rác Nam Sơn, Hà Nội, chịu đựng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng từ mùi hôi, nước thải của bãi rác, dẫn đến nhiều lần chặn xe rác. Các đợt chặn xe cao điểm như năm 2019, 2020 khiến rác ùn ứ, làm nội thành Thủ đô ngập trong rác vài ngày. Vì thế, Chính quyền thành phố đã đẩy mạnh các dự án điện rác để giải quyết triệt để.
Giờ thì Hà Nội đang có hai nhà máy điện rác là Thiên Ý của chủ đầu tư Trung Quốc và Seraphin của chủ đầu tư Việt Nam, có thể đốt hơn 7.200 tấn rác/ngày, tức phần lớn rác phát sinh của thành phố.
Chưa kể, trong những thời điểm dư công suất, các nhà máy này còn có thể xử lý cả lượng rác tồn đọng tại các bãi chôn lấp lân cận. Nếu làm đúng như vậy thì trong vòng 10-15 năm nữa, thành phố có thể thu hồi hàng trăm hecta đất đang dùng để chôn lấp rác.
Nhìn đi và nhìn lại
Vậy theo ông có thể xem điện rác như lựa chọn khả dĩ nhất hiện nay để xử lý rác ở Việt Nam được không?
Các loại hình công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam. Đồ họa: Ngô Hà.
So với đốt rác thiêu hủy thì điện rác có những điểm cộng nhất định. Đốt rác thiêu hủy có chi phí đầu tư thấp, giúp xử lý nhanh khối lượng rác khổng lồ nhưng lại là "khoản chi chết" vì nó biến chất thải thành tro bụi. Ngược lại, đốt rác phát điện, dù yêu cầu suất đầu tư cao gấp 3-5 lần, nhưng có thể tạo ra doanh thu kép từ phí xử lý rác và bán điện lên lưới. Xét về dài hạn, điện rác biến chất thải thành tài nguyên, trong khi thiêu hủy đơn thuần chỉ là giải quyết phần ngọn của sự ô nhiễm.
Nhưng nếu nước ta mà rộng lớn như nước Mỹ hoặc có mật độ dân cư thấp như nước Nga thì có lẽ chôn lấp - sau khi đã phân loại tốt – vẫn là một lựa chọn hợp lý. Tuy nhiên trên thực tế, quỹ đất dành cho chôn lấp rác của Việt Nam đang thu hẹp rất nhanh. Chính phủ nói rằng muốn giảm tỷ lệ chôn lấp trực tiếp xuống còn dưới 10% vào năm 2030. Đó là mục tiêu rất thách thức, buộc các địa phương phải tìm kiếm các công nghệ xử lý rác hiệu quả hơn.
Điều gì gây băn khoăn về điện rác, khiến ông vẫn đặt giả thiết "nếu như"?
Điện rác vẫn còn gây băn khoăn ở chỗ việc đốt có thể dẫn đến không kiểm soát được hai chất độc hại là dioxin và furan trong khói thải. Mặc dù các chất này được thu hồi và kiểm soát trong quy trình xử lý khói thải của nhà máy, đây vẫn là mối lo đáng kể của cộng đồng, đặc biệt trong bối cảnh niềm tin vào việc giám sát vận hành và minh bạch dữ liệu quan trắc môi trường chưa thực sự vững chắc. Các chuyên gia cho rằng, về mặt công nghệ, hoàn toàn có thể kiểm soát dioxin và furan dưới ngưỡng an toàn, nhưng thách thức lớn hơn nằm ở việc đảm bảo hệ thống luôn vận hành đúng chuẩn, liên tục và được kiểm chứng độc lập.
Một vấn đề khác, công nghệ lò ghi di động của Trung Quốc cho phép xử lý gần như mọi loại rác. Tất nhiên, trước khi đốt, vẫn có bước ủ để giảm độ ẩm của rác; sau đó, tận dụng nhiệt từ khí sinh ra trong quá trình ủ để sấy lại rác cho rác khô hơn. Thoạt nhìn, khả năng này tưởng như là một lợi thế của điện rác, nhưng sâu xa, nó có thể làm suy yếu động lực phân loại rác. Ví dụ, đáng lẽ phải tách riêng rác hữu cơ và rác nhựa, túi nilon, nhưng ỷ vào khả năng xử lý rác thải không cần phân loại, người ta lồng chung tất cả vào rồi buộc lại.
Đó là chưa kể, khi đốt rác hỗn hợp, có thể chúng ta đang đốt bỏ những thứ có giá trị. Châu Âu và Nhật Bản đều phải phân loại tốt rồi mới đốt. Hệ thống của họ rất rành mạch giữa những gì "được đốt" và "không đốt".
Không dễ chuyển sang điện rác
Sau hơn 10 năm, Việt Nam mới triển khai khoảng 15 dự án điện rác, chịu trách nhiệm xử lý gần 13% lượng rác thải sinh hoạt của cả nước. Vậy liệu có khả năng xảy ra tình trạng dư thừa công suất điện rác như ở Trung Quốc không?
Các nhà máy điện rác thường chỉ hoạt động được khi có hai nguồn thu là phí xử lý rác và bán điện. Chính quyền sẽ trả cho họ mức tiền xử lý rác, hiện nay có lẽ vào khoảng 400.000-500.000 đồng/tấn. EVN cũng sẽ mua lại toàn bộ điện phát lên với chi phí cố định vào khoảng 2.100- 2.500 đồng/kWh liên tục trong vòng 20 năm. Các mức giá này theo tôi là đã đủ tạo ra sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư, kể cả nhà đầu tư tư nhân.
Tuy nhiên, khi đã đầu tư nhà máy đốt rác phát điện, ta cần "nuôi" nó bằng lượng rác ổn định trong hàng chục năm. Nếu phân loại càng tốt, thì lượng rác đem đốt sẽ càng giảm. Nhưng ngược lại, cứ dân số tăng và đời sống đi lên là khối lượng rác tạo ra sẽ lại nhiều thêm. Cho nên, để đầu tư một nhà máy điện rác, cần phải tính toán rất kỹ điểm cân bằng và dự đoán được lượng rác thải trong tương lai.
Ở đây, các đô thị lớn như Hà Nội, TP HCM lại hấp dẫn hơn so với các tỉnh nhỏ như Thái Nguyên, Ninh Bình, Nghệ An... Không chỉ có lượng rác dồi dào hơn, mà quãng đường vận chuyển cũng gần hơn. Dân cư tập trung đông giúp tạo ra nguồn rác đủ lớn để "nuôi" nhà máy.
Ở Hà Nội, khoảng cách vận chuyển chỉ vài chục km là đã tới nơi xử lý. Trong khi đó, ở các địa phương như Hải Phòng chẳng hạn, nếu chỉ có một nhà máy, thì rác từ Cẩm Giàng (Hải Dương cũ) vận chuyển lên Hải Phòng phải đi rất xa, khoảng 70–80 km, làm tăng chi phí. Thành ra, các tỉnh nhỏ có thể vẫn muốn làm điện rác, nhưng điều kiện khó khăn hơn nhiều so với các thành phố lớn. Khi địa phương không thể cam kết được khối lượng rác thì nhiều chủ đầu tư đi vay vốn sẽ khó lập được hồ sơ tài chính khả thi.
Hiện Việt Nam có hơn 300 nhà máy đốt rác thiêu hủy đang vận hành. Theo ông những cơ sở này có khả năng chuyển đổi sang đốt rác phát điện được không?
Phần lớn trong số đó khó có thể chuyển đổi sang điện rác. Thực tế, thứ duy nhất có thể tận dụng là địa điểm - vì đã có đầy đủ phê duyệt môi trường, hạ tầng đất đai và sự chấp thuận của cộng đồng xung quanh. Còn lại, về công nghệ thì phải đập đi làm lại hết, thậm chí làm lại cả nền móng.
Về phía nhà đầu tư, họ cũng nhận thức rõ xu hướng phải chuyển sang điện rác. Nếu không chuyển đổi, họ có nguy cơ mất nguồn rác vào tay các đơn vị khác. Nhưng vì đầu tư cho điện rác đắt đỏ - từ 2 đến 3 tỷ đồng cho công suất 1 tấn rác - nên họ thường sẽ phải liên doanh với các bên khác.
Ngay tại Hà Nội, khu Nam Sơn là một ví dụ. Đây vốn là bãi rác cũ, trước đã có những nhà máy đốt rác quy mô nhỏ, rồi sau đó triển khai thêm dự án đốt rác phát điện nhưng không thành công ngay từ đầu, phải đắp chiếu 5-6 năm. Chỉ đến khi có nhà đầu tư đủ năng lực tham gia thì mới hình thành được nhà máy điện rác như hiện nay. Điều này cho thấy quá trình chuyển đổi không hề đơn giản, mà phải trải qua nhiều lần thử nghiệm và thất bại.
Trân trọng cảm ơn ông đã có những chia sẻ thiết thực.
Ngô Hà thực hiện
- Dư thừa điện rác nội địa, Trung Quốc chuyển mạnh đầu tư sang Việt Nam