![]() |
Việc tiêm Botox để xóa mờ nếp nhăn đang ngày càng phổ biến. Nguồn: cohendoc.com |
Kể từ khi xuất hiện trên thị trường, Botox đã nhanh chóng nổi tiếng với khả năng xóa mờ nếp nhăn. Về bản chất, Botox là nhãn hiệu của các sản phẩm dạng tiêm chứa độc tố botulinum loại A. Đây là một loại protein có nguồn gốc từ vi khuẩn Clostridium botulinum. Việc sử dụng chất này ở dạng pha loãng, có độ tinh khiết cao, dưới sự kiểm soát của người có chuyên môn, thường khá an toàn. Botox không phải là hãng duy nhất cung cấp thuốc tiêm botulinum. Tuy nhiên, đây là thương hiệu thuốc botulinum đầu tiên và nổi tiếng nhất, nên người ta thường dùng như tên gọi chung cho các thuốc tiêm thẩm mỹ chứa độc tố botulinum.
Gần hai thập kỷ trước, Botox thường được coi là thú vui phù phiếm của giới siêu giàu. Nhưng giờ đây, độc tố botulinum đang trở thành một trong những liệu pháp y tế đa năng nhất thế giới. Theo Hiệp hội Phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ Hoa Kỳ (ASPS), hơn 7,4 triệu ca điều trị bằng độc tố botulinum loại A (của các hãng Botox, Xeomin và Dysport) đã được thực hiện vào năm 2018, tăng 845% so với năm 2000.
Độc tố botulinum được tạo ra bởi vi khuẩn Clostridium botulinum – một loại vi khuẩn phân bố rộng rãi trong tự nhiên. Đây là độc tố thần kinh tự nhiên mạnh nhất mà con người từng biết đến, có thể dẫn đến tê liệt cơ, thậm chí là tử vong nếu nhiễm độc.
Từ cuối những năm 1700 đến đầu những năm 1900, nhiều ca tử vong do ngộ độc thực phẩm xảy ra trên khắp nước Mỹ và châu Âu. Vào những năm 1820, nhà thơ kiêm bác sĩ người Đức Justinus Kerner đã khám phá ra bí ẩn đằng sau những ca ngộ độc này. Theo nghiên cứu của Kerner, chất độc phát sinh trong xúc xích hỏng ở điều kiện kỵ khí, đã tác động lên hệ thần kinh và khiến bệnh nhân tử vong. Kerner cũng cho rằng chất độc này có tác dụng chữa bệnh nếu sử dụng ở liều lượng nhỏ. Khi đó, người ta gọi tình trạng nhiễm độc này là "bệnh Kerner". Đến năm 1870, bác sĩ người Đức Muller đã gọi căn bệnh này là ngộ độc thịt (botulism), bắt nguồn từ "botulus" trong tiếng latin nghĩa là xúc xích, do nhiều vụ ngộ độc này bắt nguồn từ việc ăn xúc xích.
Đến năm 1895, nhà vi khuẩn học người Bỉ Emile van Ermengem đã xác định Clostridium botulinum là vi khuẩn sản sinh ra độc tố này. Ban đầu vi khuẩn này được đặt tên là Bacillus botulinus, nhưng đến năm 1917 lại được thay đổi để phân biệt loài vi khuẩn Bacillus hiếu khí và Clostridium kỵ khí.
Bước tiến lớn tiếp theo đến vào năm 1928, lần đầu tiên TS. Herman Sommer tại Đại học California, San Francisco phân lập độc tố botulinum loại A dạng tinh khiết. Từ những năm 1930, Mỹ đã tập trung nghiên cứu các độc tố gây chết người như botulinum do lo ngại Đức đang sử dụng các độc tố này làm vũ khí sinh học. Một nhóm các nhà khoa học bao gồm gồm Carl Lamanna, Arthur Guyton và Edward Schantz ở Trung tâm Chiến tranh sinh học Mỹ đã nuôi cấy botulinum loại A tinh khiết và nghiên cứu tác động của chất độc này trên người. Khi nhận thấy nỗi lo về việc người Đức dùng botulinum làm vũ khí là vô căn cứ, Mỹ đã từ bỏ việc nghiên cứu sử dụng độc tố này cho chiến tranh.
Vào cuối Thế chiến II, khi các thí nghiệm về loại độc tố này đã chấm dứt, TS. Schantz là người quản lý các kho lưu trữ chất độc botulinum còn lại. Bắt đầu từ những năm 1950 và trong suốt sự nghiệp của mình, ông đã chia sẻ độc tố này cho các bác sĩ và các nhà khoa học nhằm mục đích nghiên cứu, mở ra chương tiếp theo trong lịch sử của độc tố botulinum. Thông qua các nghiên cứu riêng biệt, TS. Arnold Burgen ở Anh, TS. Vernon Brooks ở Canada và TS. Daniel Drachman ở Mỹ đã phát hiện chất độc botulinum gây liệt cơ bằng cách ức chế dẫn truyền tín hiệu synap thần kinh đến tế bào cơ.
Vào những năm 70 của thế kỷ trước, bác sĩ nhãn khoa Alan Brown Scott ở Mỹ đã nghiên cứu độc tố botulinum để điều trị lác mắt. Việc phẫu thuật lác mắt khi đó còn nhiều hạn chế - có tới 40% bệnh nhân phải phẫu thuật lại. Do vậy, Scott và các cộng sự đã tìm cách tiêm các chất làm suy yếu cơ để điều trị lác mắt, thay thế cho việc phẫu thuật. Loại thuốc do Scott phát triển có tên Oculinum đã được Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) chấp thuận để điều trị chứng lác mắt và co thắt mi mắt (blepharospasm) vào năm 1989. Vài năm sau đó, hãng dược Allergan đã mua lại Oculinum và đổi tên thành Botox.
Việc khám phá ra ứng dụng của botulinum trong lĩnh vực thẩm mỹ là một sự tình cờ. Năm 1987, Jean Carruthers, bác sĩ nhãn khoa người Canada, đã sử dụng Botox để điều trị chứng co thắt mi mắt cho một bệnh nhân và nhận thấy sau khi tiêm Botox, những nếp nhăn quanh mắt bệnh nhân có vẻ mờ đi. Sau đó, Jean và chồng là bác sĩ da liễu Alastair Carruthers đã thử nghiệm và khám phá khả năng làm mờ nếp nhăn của Botox. Họ đã công bố kết quả nghiên cứu vào năm 1992.
Các bác sĩ da liễu rất quan tâm đến kết quả này. "Năm 1997, độc tố botulinum đang được thử nghiệm để điều trị nếp nhăn – đó là một phương pháp khá bí mật mà không nhiều người có điều kiện tiếp cận, chỉ có những người giàu có khi đó vẫn làm", TS. Paul Jarrod Frank, bác sĩ da liễu ở Mỹ, cho biết. "Chúng tôi [các bác sĩ da liễu] đã thử nghiệm phương pháp này, và tôi đã tiêm nó vào trán mình".
Ban đầu, một số người vẫn lo ngại về tính độc hại của Botox. "Lúc đầu mọi người khá ngần ngại vì chưa ai biết đến nó trước đây, và họ cũng hơi lo lắng vì nó được làm từ độc tố botulinum", TS. Bruce Katz, một bác sĩ da liễu ở Mỹ, nói. "Vì vậy, tôi đã cho bệnh nhân xem ảnh trước và sau khi tiêm Botox. Sau đó, việc thuyết phục họ thử nghiệm không còn khó khăn nữa".
Theo thời gian, việc sử dụng botulinum trong y tế và thẩm mỹ ngày càng được mở rộng. Năm 2000, FDA đã cho phép sử dụng Botox để điều trị chứng loạn trương lực cổ. Năm 2002, FDA chấp thuận sử dụng Botox trong thẩm mỹ, để xóa mờ nếp nhăn giữa hai lông mày. Hai năm sau, Botox được phép sử dụng để điều trị chứng tăng tiết mồ hôi nách. Ngoài ra, nó cũng được dùng để điều trị nếp nhăn đuôi mắt (vết chân chim), chứng bàng quang tăng hoạt, hỗ trợ điều trị rối loạn khớp thái dương hàm...
Dù xóa mờ nếp nhăn, song việc tiêm Botox thường ảnh hưởng đến cơ mặt, dẫn đến vẻ ngoài đơ cứng. Nhiều hãng phim đã từ chối tuyển dụng những diễn viên tiêm Botox quá đà vì họ không thể hiện được đầy đủ biểu cảm trên khuôn mặt. Do vậy, các bác sĩ đã tìm cách kiểm soát liều lượng và kỹ thuật tiêm để tạo ra vẻ ngoài tự nhiên hơn. "Khi bắt đầu sử dụng [Botox], mục tiêu là loại bỏ hoàn toàn chuyển động [trên gương mặt]. Chúng tôi đo lường thành công bằng mức độ ‘đông cứng’ [của khuôn mặt]", TS. Doris Day, một bác sĩ da liễu ở Mỹ, cho biết. "Nhưng sau nhiều thập kỷ nghiên cứu trong lĩnh vực thẩm mỹ, chúng tôi nhận ra mục tiêu không chỉ dừng lại ở đó".
Từ một chất độc chết người, giờ đây botulinum đã trở thành một sản phẩm được sử dụng rộng rãi để chữa bệnh và làm đẹp. Một lý do quan trọng khiến mọi người đón nhận loại thuốc tiêm này hơn là do việc sử dụng Botox giờ đây mang lại vẻ ngoài trẻ trung tự nhiên hơn nhiều so với trước đây. Theo bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ David Shafer, "tiêm Botox ban đầu là để bạn trông trẻ hơn, nhưng giờ đây nó giúp bạn trông đẹp hơn".
Nguồn: Dazed Digital, Coveteur,
Aesthetic Surgery Journal
Bài đăng KH&PT số 1357 (số 33/2025)
Ngọc Mai tổng hợp
