![]() |
Dơi Pteropus vampyrus - một trong những loài đang bị đe dọa trên toàn cầu. Ảnh: Wikimedia |
Loài dơi nhỏ bé mà ta thường chỉ thấy lướt qua như một bóng đen trong đêm lại giữ vai trò then chốt trong tự nhiên. Chúng giúp thụ phấn cho nhiều loài cây, gieo hạt tự nhiên, kiểm soát côn trùng mang mầm bệnh và sâu hại nông nghiệp, đồng thời góp phần duy trì sự ổn định và khỏe mạnh của cả hệ sinh thái lẫn các cộng đồng sống trong đó.
Việt Nam, với mức độ đa dạng sinh học cao, là nơi sinh sống của khoảng 30% số loài dơi được ghi nhận ở châu Á. Thế nhưng những nơi trú ẩn của dơi tại Việt Nam - như rừng, hang đá, dải núi đá vôi - đang dần bị thu hẹp. Đô thị hóa, nạn phá rừng, du lịch hang động, phát triển năng lượng gió và săn bắn dơi đang làm xáo trộn môi trường sống của đàn dơi, góp phần làm suy giảm quần thể.
Mặc dù hệ thống vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài v.v. có thể là những khu vực bảo vệ giúp giảm thiểu sự suy giảm quần thể dơi và mất môi trường sống, song liệu những khu bảo vệ hiện có ấy có thật sự đang che chở được nhóm động vật này?
Ghép những mảnh dữ liệu rời rạc
Với mong muốn trả lời câu hỏi trên, các nhà khoa học thuộc Viện Sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan, Trung tâm Nghiên cứu Đa dạng Sinh học - Viện Hàn lâm Sinica Đài Loan, Khoa Động vật học - Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hungary v.v. đã cùng nhau tiến hành phân tích dữ liệu để đánh giá liệu các khu bảo tồn bao phủ được bao nhiêu phần vùng sống thực tế của loài dơi, hay nói cách khác: mạng lưới bảo tồn hiện nay có hiệu quả không?
Điều này đòi hỏi họ sẽ cần xác định hai phần, gồm phần các khu bảo tồn hiện hành và phần bản đồ vùng sống của các loài dơi. Sau đó, họ sẽ đối chiếu để xác định mức độ khớp nhau giữa chúng.
Nếu bản đồ các khu bảo vệ đã có sẵn trong cơ sở dữ liệu quốc tế WDPA, thì phần còn lại - bản đồ vùng sống của từng loài dơi - lại là một khoảng trống. Để dựng nên được "bản đồ sự sống" ấy, họ đã ghép từng mảnh dữ liệu rời rạc lại với nhau. Trong công bố "Habitat prioritization for bat conservation: A case study in Vietnam1", các nhà khoa học cho biết họ đã tổng hợp dữ liệu từ GBIF (kho thông tin sinh học lớn nhất thế giới), các nghiên cứu đã công bố, ghi chép chưa xuất bản của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, mẫu vật từ Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hungary, và cả những chuyến thực địa của cả nhóm. Cuối cùng, họ có trong tay 8.431 điểm ghi nhận thuộc 116 loài dơi.
Tuy nhiên, không phải loài nào cũng có đủ dữ liệu để mô hình hóa. Chỉ 81 loài vượt qua "ngưỡng 20 điểm", mức tối thiểu để mô hình hoạt động chính xác. Đây chính là nền móng để nhóm bắt đầu bước tiếp theo: tìm hiểu nơi nào trong không gian tự nhiên của Việt Nam thật sự phù hợp để làm môi trường sống của từng loài dơi, chứ không chỉ nơi chúng đã từng được nhìn thấy.
Để biết dơi có thể sống ở đâu, nhóm nghiên cứu cần hiểu rõ đặc trưng môi trường sống của chúng. Họ gom thêm nhiều lớp dữ liệu về khí hậu và thảm thực vật - những yếu tố quyết định nơi dơi có thể bay, ngủ và kiếm ăn. Từ bộ dữ liệu khí hậu, các nhà khoa học đã chọn ra sáu yếu tố quan trọng nhất, gồm nhiệt độ mùa lạnh, mùa nóng, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm, cùng lượng mưa ở các thời điểm khác nhau trong năm. Đây là những yếu tố tác động trực tiếp đến sinh lý, thời điểm dơi hoạt động và khả năng tìm thấy thức ăn.
Bên cạnh đó, họ bổ sung thêm dữ liệu lớp phủ đất để xem trên mỗi ô lưới 1 km có bao nhiêu phần là rừng thường xanh, rừng rụng lá, đất nông nghiệp, cỏ bụi hay vùng ngập nước. Những mảng rừng rậm hay dày tán thường là nơi trú ngụ ưa thích của nhiều loài dơi. Không dừng lại ở đó, họ còn đưa vào bản đồ các khu đá vôi (nơi có thể hình thành hệ thống hang karst) vốn là "chốn ngủ" của rất nhiều loài dơi Việt Nam.
Từ kho dữ liệu đã gom, nhóm dùng thuật toán MaxEnt để dự đoán vùng phân bố tiềm năng của từng loài dơi. Thuật toán "học" từ các điểm mà dơi từng được ghi nhận và điều kiện môi trường tại đó, rồi tìm ra những vùng khác có đặc điểm tương tự, tức nơi mà loài dơi đó nhiều khả năng có thể sống được. Sau khi kiểm định mức độ tin cậy của mô hình, các nhà khoa học tiến hành bước cuối: chuyển bản đồ xác suất thành bản đồ "có/không", mỗi ô lưới được xác định rõ ràng là phù hợp hay không phù hợp với từng loài dơi.
Khi hai lớp bản đồ - vùng phân bố dơi và mạng lưới khu bảo vệ hiện tại - được chồng lên nhau, một bức tranh đáng lo ngại hiện ra. Trung bình, các khu bảo tồn của Việt Nam chỉ bao phủ 6,12% vùng sống của các loài dơi được phân tích.
Ngoài ra, 78 trong số 81 loài dơi, tức 96%, hầu như không được bảo vệ đầy đủ theo tiêu chuẩn quốc tế về mức độ bao phủ tối thiểu. Ngay cả những loài đang bị đe dọa toàn cầu - như cáo bay Pteropus vampyrus - cũng chỉ có khoảng 3% vùng sống nằm trong các khu bảo tồn. Một số loài khác chỉ được bao phủ dưới 1%.
Điều đó cho thấy mạng lưới bảo tồn hiện nay của Việt Nam, dù có diện tích khá lớn và trải rộng khắp các vùng sinh thái, lại không trùng với môi trường sống của dơi. Các khu bảo tồn dường như được thiết kế dựa trên các hệ sinh thái đặc trưng hoặc để bảo vệ các loài thú lớn, chứ chưa dựa trên dữ liệu phân bố dơi - nhóm động vật ít được quan tâm dù rất quan trọng cho hệ sinh thái.
Mở rộng khu vực bảo vệ
Kết quả này gợi mở ra những câu hỏi khác: Nếu mở rộng khu bảo tồn, thì mở ở đâu là hiệu quả nhất? Và nếu mở rộng khu bảo tồn đúng chỗ, hiệu quả sẽ tăng lên bao nhiêu?
Khi đã có bản đồ phân bố của 81 loài dơi, các nhà khoa học sử dụng thuật toán Zonation để xác định các khu vực nên ưu tiên bảo tồn. Thuật toán sẽ giúp họ xác định những nơi nào có vai trò quan trọng không thể thay thế đối với các loài dơi. Zonation hoạt động bằng cách xếp hạng tất cả ô lưới theo giá trị bảo tồn, tính toán dựa trên sự hiện diện của các loài, mức độ quý hiếm và mức độ bị đe dọa, chi phí đất và sự liền mạch của vùng sinh cảnh.
Từ phân tích của Zonation, các nhà khoa học đã khoanh được ba "trục xương sống" cho bảo tồn dơi tại Việt Nam: Tây Nguyên, dải rừng Trường Sơn phía Tây thuộc Duyên hải miền Trung, và khu vực rừng núi Tây Bắc. Đây là những nơi tập trung nhiều loài dơi nhất, sở hữu sinh cảnh rừng nguyên sinh hoặc rừng ít bị chia cắt, và đồng thời cũng là những nơi đang chịu áp lực mất rừng mạnh nhất.
Để xem những vùng ưu tiên này có thể cải thiện hiệu quả bảo tồn đến đâu, nhóm nghiên cứu đã thử hai kịch bản mở rộng khu bảo tồn.
Theo kịch bản 1 với 9% diện tích đất được bảo vệ theo cam kết mà Việt Nam đặt ra trong Chiến lược Quốc gia về Đa dạng Sinh học đến năm 2030, hiệu quả bảo vệ dơi đã tăng cao. Chỉ cần mở rộng đúng chỗ thêm 4% diện tích đất - nghe có vẻ không nhiều, nhưng vùng sống của dơi được che phủ tăng gần gấp đôi, đạt 11,89%. Quan trọng hơn cả, số loài dơi được bảo vệ ở mức "đủ tốt" - vốn chỉ ở mức 3 loài - sẽ tăng lên thành 58 loài.
Khi đẩy mô phỏng lên mức tham vọng hơn với 30% diện tích đất được bảo vệ, phù hợp với Khung Đa dạng sinh học toàn cầu Côn Minh - Montreal, những con số còn ấn tượng hơn nữa. Trung bình 42% vùng phân bố của các loài dơi được bao phủ trong khu vực bảo vệ. Lúc này, 71 trong số 81 loài dơi đạt ngưỡng được bảo vệ tốt theo tiêu chuẩn quốc tế. Trong bức tranh bảo tồn ở cấp độ quốc gia, ba khu vực Tây Nguyên, dải rừng Trường Sơn, rừng núi Tây Bắc kết nối với nhau như những trụ cột giữ lấy đa dạng sinh học của cả nước.
Kết quả nghiên cứu đã cho thấy chỉ một bước dịch chuyển nhỏ về diện tích, nhưng nếu triển khai đúng khu vực cần, đó sẽ là bước dịch chuyển lớn đầy hiệu quả. Các nhà hoạch định có thể triển khai nghiên cứu tương tự lên các loài động thực vật khác và quyết định đâu là các khu vực cần mở rộng phù hợp với hoạt động bảo tồn chung trên nhiều loài, không dừng lại ở chỉ loài dơi.
Nghiên cứu không chỉ hé lộ bức tranh lớn về bảo tồn, mà còn cho thấy hiện trạng của một số loài dơi cụ thể. Các loài dơi đang bị đe dọa và có mức độ phân bố hẹp, chẳng hạn như Coelops frithii, Ia io, Kerivoula picta, Myotis formosus, Myotis pilosus, Pteropus hypomelanus, P. lylei, P. vampyrus và Rousettus leschenaultii, đang có mức độ được bảo vệ rất thấp. Đây đều là những loài nhạy cảm với biến đổi khí hậu, mất rừng và sự xáo trộn từ hoạt động con người như du lịch hang động hay săn bắt. Một vài thay đổi nhỏ trong môi trường sống có thể khiến số lượng của chúng suy giảm nhanh chóng.
"Dơi ở Đông Nam Á vô cùng đa dạng, và nhiều loài chỉ sống được trong những môi trường rất đặc thù như rừng nguyên sinh hay các hang đá vôi," ông Lê Quang Tuấn (Đại học Sư phạm Quốc gia Đài Loan), tác giả chính của nghiên cứu, chia sẻ với tờ Mongabay2. "Nếu những nơi này không được gìn giữ cẩn thận, thì các loài dựa vào chúng cũng khó mà tồn tại."
[1] Tuan LQ, Tu VT, Tuan TA, Thong VD, Son NT, Luong NT, et al. (2025) Habitat prioritization for bat conservation: A case study in Vietnam. PLoS One 20(9): e0331094. https:// doi.org/10.1371/journal.pone.0331094
[2] Cowan, C. (2025) ‘Vietnam’s protected areas fall short of safeguarding most bats, study finds’, Mongabay, 6 November. Available at: https://news.mongabay.com/2025/11/vietnams-protected-areas-fall-short-of-safeguarding-most-bats-study-finds/
Bài đăng KH&PT số 1371 (số 47/2025)
Anh Thư
