Tuy nhiên, báo cáo quốc gia mới nhất chỉ ra rằng cải cách hành chính tại Việt Nam đang đối mặt với những thách thức cốt lõi về thể chế: từ sự phân mảnh và chồng chéo trong cơ cấu tổ chức cho đến nguy cơ "quá tải cải cách" khi các thay đổi được áp dụng đồng loạt và thiếu lộ trình hỗ trợ.
![]() |
Người dân làm thủ tục tại cơ quan hành chính. Ảnh: nhandan |
Đã cải thiện nhưng chưa đủ
Đầu tháng bảy, Việt Nam đã trải qua thời khắc lịch sử khi 34 tỉnh thành đi vào hoạt động sau khi sáp nhập từ 63 tỉnh thành. Không chỉ vậy, Việt Nam còn đang tiến hành tái cấu trúc toàn diện bộ máy: giảm số lượng bộ cấp trung ương còn 17; giải thể 519 cục (86%), 219 vụ (54%) và 203 đơn vị sự nghiệp công lập; giảm ủy ban của Quốc hội từ 10 còn 7,... Cuộc cải cách hành chính hiện nay đang được Chính phủ triển khai với quyết tâm mạnh mẽ là một bước thay đổi lớn trong cấu trúc hành chính quốc gia, với kỳ vọng sẽ tạo động lực quan trọng cho sự phát triển hơn nữa của đất nước. Tuy nhiên, nó cũng có thể đi kèm với những đợt cắt giảm mạnh mẽ đầy thách thức, đặc biệt là trong biên chế khu vực công. Ước tính ít nhất 100.000 người sẽ mất việc trong vòng sáu tháng, và mục tiêu dài hạn là giảm 20% biên chế, tương đương khoảng 400.000 người.
Báo cáo Quốc gia "Cải cách hành chính ở Việt Nam" do trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Justus-Liebig Universität Gießen (Đức) và Tổ chức Hanns Seidel vừa mới công bố gần đây đã chỉ ra những điểm tích cực và thách thức trong tiến trình cải cách bộ máy hành chính ở Việt Nam. Theo GS. TS. Detlef Briesen - Khoa Lịch sử và nghiên cứu văn hóa (Đai học Justus-Liebig Gießen, Đức), từ khi khởi xướng công cuộc Đổi mới vào những năm 1980, Việt Nam đã thực hiện bốn làn sóng cải cách hành chính lớn, song, những nỗ lực trước đây nhằm cải tổ bộ máy hành chính nhìn chung mới chỉ đạt được kết quả hạn chế. Một trong những vấn đề nổi bật là số lượng cán bộ, công chức vẫn tiếp tục gia tăng, khiến Việt Nam vẫn là một trong những nước có bộ máy hành chính nhà nước cồng kềnh nhất ở Đông Nam Á. Tính đến năm 2023, có khoảng 7,9% lực lượng lao động làm việc trong khu vực công. Con số này gần như không thay đổi trong hai thập kỷ qua, ở mức khoảng 4 triệu người, chưa bao gồm khoảng một triệu nhân sự thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an - hai cơ quan không có số liệu công khai chính xác.
"Tuy nhiên, vấn đề chính không nằm ở tổng số lượng người làm việc trong khu vực công, mà ở sự phân tán và chồng chéo trong hệ thống cơ quan nhà nước", tác giả chỉ ra vấn đề cốt lõi. "Bộ máy hành chính bị phân mảnh, dẫn đến trùng lặp chức năng và nhiệm vụ giữa các cơ quan, làm chậm tiến trình xử lý hành chính và gây phức tạp, ví dụ một quyết định đầu tư có thể kéo dài vài năm. Không có gì ngạc nhiên khi tình trạng này làm gia tăng xu hướng sử dụng 'con đường không chính thống' để đẩy nhanh tiến trình".
Theo nhận định của nhóm soạn thảo, đánh giá một cách khách quan, cải cách hành chính thời gian qua đã đem lại những cải thiện đáng kể về hiệu quả hoạt động của bộ máy công quyền Việt Nam. Ví dụ, Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính (SIPAS) liên tục tăng: năm 2024 đạt trung bình 83,94%, tăng 1,28% so với năm trước đó. Điều này cho thấy đa số người dân được khảo sát hài lòng với dịch vụ hành chính công mình nhận được, phản ánh chất lượng phục vụ đã tiến bộ. Nhiều thủ tục hành chính trước đây giải quyết trong vài tuần nay rút xuống vài ngày, thậm chí vài giờ nhờ áp dụng công nghệ và quy trình một cửa. Chẳng hạn, thời gian đăng ký thành lập doanh nghiệp giảm từ 15 ngày (trước 2010) xuống còn 3 ngày hiện nay; hay việc cấp hộ chiếu phổ thông online chỉ mất 5–7 ngày xử lý so với 14 ngày theo cách truyền thống. Những con số này minh chứng hiệu quả cải cách hành chính đã tăng lên cả về tốc độ xử lý lẫn chất lượng phục vụ.
Tuy nhiên, thách thức về hiệu lực, hiệu quả vẫn rất lớn. Báo cáo chỉ ra, hiệu quả giữa các địa phương, các lĩnh vực còn không đồng đều, có nơi làm tốt, nhưng có nơi thủ tục vẫn gây phiền hà, khiến nhà đầu tư, người dân chưa thực sự yên tâm. Ngay trong kết quả SIPAS 2024, mức độ hài lòng dao động từ 75% đến 90% tùy tỉnh – nghĩa là vẫn có tỉnh cứ bốn người thì một người chưa hài lòng. Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) cũng phản ánh sự chênh lệch: có tỉnh đạt điểm rất cao về dịch vụ công, nhưng có tỉnh ở nhóm cuối bảng, nhất là các tỉnh miền núi khó khăn. "Điều này cho thấy cải cách hành chính chưa thấm đều, một số nơi triển khai còn hình thức, chưa thực chất nên hiệu quả thấp", báo cáo chỉ ra.
Mặt khác, hiệu quả hoạt động còn bị ảnh hưởng bởi hạn chế về nguồn nhân lực và tài chính. Dù đã tinh giản biên chế, nhưng năng suất lao động khu vực công còn chưa cao; vẫn còn tình trạng một công việc cần nhiều người giải quyết hoặc người dân phải đi lại nhiều lần. Chi tiêu công tuy giảm tương đối, nhưng chi thường xuyên vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách (trên 60%), phần nào cho thấy hiệu quả phân bổ nguồn lực chưa tối ưu. Việc đánh giá hiệu quả cũng là thách thức: hiện nay Việt Nam chủ yếu đo hiệu quả qua chỉ số cải cách, hài lòng, chưa có hệ thống đo lường định lượng hiệu suất công vụ (KPIs) toàn diện
Đi theo mô hình nào?
Cải cách hành chính không chỉ là câu chuyện riêng của Việt Nam, mà là xu hướng chung ở nhiều quốc gia trên thế giới trong vài thập niên qua. Từ cuối thế kỷ 20, rất nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển phương Tây, đã triển khai phong trào cải cách được gọi là Quản lý công mới (New Public Management – NPM). Phong trào này nhấn mạnh áp dụng các nguyên tắc thị trường vào khu vực công: tinh giản biên chế, tư nhân hóa hoặc xã hội hóa dịch vụ công, lấy khách hàng (người dân) làm trung tâm, đo lường hiệu quả công việc qua kết quả đầu ra.
Tiêu biểu như Anh, New Zealand, Hoa Kỳ trong thập niên 1980–1990 đã đi đầu đợt cải cách này, cắt giảm mạnh số công chức, giao nhiều dịch vụ công cho tư nhân đảm nhiệm, đồng thời đặt ra các chỉ số hiệu suất cho từng cơ quan. Kết quả ở một số nơi tích cực (giảm chi ngân sách, dịch vụ linh hoạt hơn), nhưng cũng có mặt trái (một bộ phận dân cư chịu thiệt thòi do cắt giảm dịch vụ). Sau đó, nhiều nước điều chỉnh chiến lược, chuyển sang nhấn mạnh Good Governance (Quản trị tốt) trong đó đề cao tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân. Các nước Bắc Âu như Thụy Điển, Phần Lan là ví dụ thành công về xây dựng nền hành chính minh bạch cao, tham nhũng rất thấp. "Họ đạt được nhờ kết hợp cải cách thủ tục với xây dựng văn hóa liêm chính và cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu (Quốc hội, báo chí, xã hội dân sự giám sát chặt chẽ chính quyền)", nhóm soạn thảo báo cáo cho biết. Trong khi đó, ở châu Á, mô hình Singapore thường được nhắc đến như hình mẫu về hiệu quả hành chính và trong sạch. Singapore áp dụng chế độ "nhân tài công vụ" với đãi ngộ cao, thu hút người giỏi vào khu vực công, đồng thời xử lý tham nhũng nghiêm khắc. Nhờ đó, Singapore luôn thuộc nhóm đầu thế giới về kiểm soát tham nhũng (CPI 2022 xếp hạng 5/180 với 85 điểm) và hiệu quả chính phủ (theo Worldwide Governance Indicators của World Bank, Singapore đạt trên 90 điểm phần trăm về hiệu quả chính phủ năm 2021).
"Những xu hướng chung rút ra là: hội tụ trong mục tiêu – các nước đều hướng tới bộ máy tinh gọn, hiệu quả, minh bạch, phục vụ người dân; đa dạng trong cách làm – tùy bối cảnh mỗi nước chọn con đường khác nhau. Hiện nay, một điểm hội tụ mới là hầu hết các nước đều thúc đẩy chính phủ số và cải cách xuyên suốt hệ thống", PGS. TS Đỗ Hương Lan - Viện trưởng Viện Chính sách, Đổi mới và Khoa học Liên ngành và TS. Trịnh Ngọc Thạch (trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) chỉ ra trong báo cáo.
Các chuyên gia khuyến nghị, Việt Nam có thể học về ứng dụng công nghệ, phương pháp quản lý hiện đại (như quản lý theo kết quả, đánh giá KPI, cung ứng dịch vụ lấy người dùng làm trung tâm). "Từ các nước láng giềng châu Á, ta có thể rút kinh nghiệm về cân bằng giữa phát triển kinh tế và kiểm soát tham nhũng, giữa phân quyền và duy trì kỷ luật hệ thống. Chẳng hạn, Nhật Bản và Hàn Quốc cũng là hai nước cải cách hành chính thành công: Nhật sau chiến tranh xây dựng chế độ công vụ kỷ luật và tinh thần phục vụ cao, Hàn Quốc những năm 2000 nổi lên với sáng kiến chính phủ điện tử minh bạch (Hệ thống OPEN của Seoul công khai mọi quy trình cấp phép để dân giám sát, được Liên Hợp Quốc đánh giá cao). Kết quả, Hàn Quốc nhiều năm liền thuộc top đầu thế giới về chính phủ điện tử", nhóm thực hiện báo cáo cho biết.
Bài đăng KH&PT số 1355 (số 31/2025)
Mỹ Hạnh
