Là một trong những cây bút phi hư cấu được yêu thích nhất thế giới, Bill Bryson nổi tiếng về khả năng khiến những chủ đề phức tạp trở nên dễ tiếp cận với số đông. Khi viết Ở nhà: Lược sử đời sống riêng tư, ông đã phát huy năng lực của mình bằng một lựa chọn thú vị: tái hiện quá khứ phức tạp của nhân loại thông qua lịch sử của những sáng chế từng định hình kiến trúc và nội thất của ngôi nhà nơi ông sống.
Phòng khách thời Vicrioria của nhà thơ, họa sĩ Dante Gabriel Rossetti ở London, Anh, do Henry Treffry Dunn - trợ lý của Rossetti, cũng là một họa sĩ độc lập - vẽ năm 1882. Ảnh: Wikipedia
Bước theo ông trong hành trình này, người đọc sẽ thấy lịch sử hiện lên qua từng đồ vật gần gũi trong nhà, thay vì qua các triều đại, vua chúa và cuộc chiến xa xôi. Lịch sử bỗng được nhìn từ dưới lên và từ trong ra ngoài, thay vì ngược lại.
Theo lẽ thường của xã hội hiện đại, chúng ta có xu hướng cho rằng mỗi cá nhân đều có một đời sống riêng tư, từ đó việc có một căn phòng riêng là điều tự nhiên. Nhưng thực tế lịch sử được tái hiện qua cuốn sách của Bryson cho thấy mối quan hệ này có phần ngược lại: chính sự ra đời tình cờ của phòng riêng đã góp phần thúc đẩy sự hình thành ý thức cá nhân nhiều thế kỷ sau.
Bryson đưa độc giả về thăm thú một ngôi nhà ở châu Âu đầu thời Trung Cổ, khi đế chế La Mã mới sụp đổ. Đó là một ngôi nhà thấp có một phòng duy nhất làm từ đất nện, gỗ và rơm, nơi gia đình chủ nhà, người làm, người hầu và khách khứa cùng làm việc, nhóm họp, nấu nướng, giải trí, ăn, ngủ... - tức thực hiện mọi hoạt động trong nhà.
Kiến trúc này được quyết định bởi các điều kiện kinh tế và công nghệ đương thời: khi các điền sản lớn thời La Mã tan rã và nô lệ trở lại thành các hộ nông dân, không ai có thể duy trì những trang viên có hệ thống sưởi ngầm đặt dưới sàn đá lát. Do phương tiện sưởi ấm khả thi duy nhất là ngọn lửa bếp đặt chính giữa ngôi nhà, kiến trúc phù hợp nhất để giữ ấm là loại nhà chỉ có một gian.
Phải đến cuối thời Trung Cổ, việc du nhập kỹ thuật nung gạch và phát minh ra ống khói mới khiến các lò sưởi âm tường trở nên khả thi. Cấu trúc của ống khói gạch nhanh chóng khiến nhà ở được xây cao lên và chia thành các phòng: phòng riêng khuyến khích sự ra đời của ý thức cá nhân cũng nhiều như các phòng chức năng tăng cường sự phân công lao động.
Các chương viết về "Phòng bếp", "Phòng rửa bát và phòng chứa thức ăn" sẽ đưa độc giả đến các dinh thự thời Victoria để thấy một bức tranh hoàn toàn khác. Lúc này, mạng lưới giao thương toàn cầu đã tái sinh dưới quy mô còn lớn hơn thời La Mã, giúp các căn bếp trung lưu và thượng lưu tiếp cận đủ loại thực phẩm, gia vị và kỹ thuật chế biến, bảo quản từ bốn phương. Nhưng sự tổ chức sản xuất và tích sản trên quy mô lớn cũng tái sinh bóng ma bất bình đẳng.
Nhà bếp cuối thời Victoria (khoảng những năm 1900) tại Bảo tàng Grosvenor, Chester, Anh. Ảnh: Wikipedia
Mỗi gia đình thượng lưu hoặc trung lưu thời Victoria cần một đội ngũ người hầu đồ sộ - gồm đầu bếp, phụ bếp, người rửa dọn, nam và nữ hầu phòng, nam và nữ quản gia, người làm vườn, người đánh xe - để giặt rửa, lau dọn, đốt củi sưởi, chạy việc, chăm sóc vật nuôi, làm bếp... Trong lúc gia đình chủ nhà xây dựng không gian riêng tư của mình trong các phòng ngủ riêng, phòng làm việc, phòng ăn, phòng khách, vườn cảnh, phòng tắm, lực lượng lao động giúp họ duy trì đời sống đó thường ngủ trong các gian phòng chật chội, thiếu khí, và phải làm việc từ sáng đến đêm. Họ phải dùng các cầu thang và lối đi riêng cho người hầu để tránh xuất hiện trước mặt chủ nhà. Trong bức tranh này, sự riêng tư và tính cá nhân của tầng lớp cai trị đã hình thành nhờ quyền tổ chức sự hiện diện của người khác.
Bất bình đẳng giới cũng góp mặt: nếu quản gia nam là người hầu có điều kiện sống tốt nhất, thì các cô hầu phụ trách đổ bô, rửa bát, giặt giũ luôn phải làm những việc nhà gây khó chịu hơn, trong nhiều giờ hơn, đồng thời nhận lương ít hơn người nam. Sự tiếp xúc liên tục với nước lạnh, bụi bặm và rác thải của nhóm này là cái giá để duy trì mặt tiền sạch sẽ dành riêng cho gia đình chủ nhân. Ngay đến trang phục của từng người hầu, những nghi thức họ phải tuân thủ, cùng diện tích và vị trí các phòng của họ trong tương quan với nhau, cũng thể hiện thứ bậc giữa họ. Kiến trúc, nội thất, phục trang và nghi thức trong ngôi nhà thời Victoria dường như vẽ nên một xã hội thu nhỏ.
Như Bryson quan niệm, lịch sử của đời sống riêng tư trước hết là lịch sử của những tiện nghi. Nhưng đến thời hiện đại, một lần nữa những tiện nghi của đời sống không được phân phối đồng đều. Đơn cử, các dụng cụ như bồn rửa, tủ lạnh, máy giặt, bếp gas hoặc điện, máy hút bụi, máy rửa bát... khiến các căn hộ trung lưu nhỏ lại vì không còn tốn nhiều người hầu như thời Victoria, nhưng chúng giảm thời gian làm việc nhà của đàn ông hơn là của phụ nữ.
Bản dịch tiếng Việt cuốn sách của Bill Bryson được xuất bản tháng 6/2026. Ảnh: Omega+
Thời Victoria tạo thành trục chính trong cuốn sách của Bryson vì một lý do tình cờ. Khi chuyển đến sống trong một căn nhà xứ được xây vào năm 1851 - giai đoạn huy hoàng nhất của thời Victoria - ông vô tình phát hiện một cánh cửa bí mật trên gác mái nhà mình, và sự tò mò về lịch sử kiến trúc ngôi nhà đã thôi thúc ông viết cuốn sách. Mỗi chương sách đều khởi từ sự quan sát một chi tiết trong ngôi nhà - hộp cầu chì, phòng khách, phòng tắm, thư phòng, tầng hầm, khu vườn, phòng trẻ em... Như vậy, thực ra Bryson đang nhìn lịch sử của nhân loại qua hai điểm quy chiếu, là nước Anh thời Victoria và hiện tại.
Về nhiều phương diện, Bryson đã có một lựa chọn khôn khéo. Trên truyền thông đại chúng, thời Victoria cung cấp hầu hết biểu tượng dễ nhận diện của văn hóa và truyền thống Anh. Đây cũng là giai đoạn chứa nhiều bức tranh tương phản và khúc ngoặt gay cấn nhất để tô điểm cho câu chuyện lịch sử của Bryson. Trong giai đoạn này, ta thấy tuổi thơ của Lewis Carroll và Darwin diễn ra song song với tuổi thơ của hàng triệu trẻ em chết trong các hầm mỏ và các nhà máy dệt vì đói và làm việc quá sức.
Nhưng điểm quy chiếu cũng tạo nên điểm yếu của cuốn sách. Khi biến một biệt thự thời Victoria thành hình mẫu cho "đời sống riêng tư", Bryson cũng gạt các lối sống khác ra khỏi nỗ lực hình dung một lịch sử hình thành tính riêng tư và tính cá nhân của nhân loại. Những người thuộc một tầng lớp khác, như nông dân, người nghèo đô thị hay hầu gái, thường được ông mô tả như khuyết đời sống riêng tư, thay vì có một kiểu sống riêng tư mà ông và người đọc không dễ hình dung. Ngay cả những xã hội Trung Cổ có điều kiện sống vượt xa nước Anh, như Trung Quốc hay Trung Đông, cũng không được xem xét như những xã hội đã phát triển những kiểu đời sống riêng tư và ý thức cá nhân khác.
Cuốn sách còn một lỗ hổng khác, nằm ở phương pháp luận. Bryson chỉ liệt kê các sự kiện góp phần định hình các thay đổi về kiến trúc, nội thất và lối sống, chứ không phân tích các nguyên lý vận động khiến những thay đổi lớn đồng loạt diễn ra, chẳng hạn trong thời Victoria. Trong cuốn sách, lịch sử hiện lên như những thay đổi phần nhiều ngẫu nhiên, nằm ngoài khả năng giải thích và nắn hướng của con người. Khi con người đánh mất tư cách chủ thể trước dòng lịch sử tạo ra đời sống cá nhân, tính cá nhân của đời sống đó có phần bị khuyết.