Mới đây, Bộ Y tế đã ban hành Dự thảo Thông tư hướng dẫn Chương trình mục tiêu quốc gia về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển giai đoạn 2026-2035, trong đó có nội dung chuẩn bị cho người dân thích ứng với tuổi già từ năm 40 tuổi trở đi.
Trong loạt thảo luận quanh Dự thảo, có một con số được nhắc lại nhiều lần và rất đáng suy nghĩ: tuổi thọ trung bình của người Việt xấp xỉ 74, nhưng số năm sống khỏe mạnh chỉ khoảng 65 [1]. Tia Sáng đã phỏng vấn Tiến sĩ Tâm lý học Thần kinh Hảo Quang (Đại học New South Wales) về những việc chúng ta có thể làm để chuẩn bị cho một tuổi già khỏe mạnh toàn diện.
Trung bình người Việt có gần mười năm cuối đời sống chung với bệnh tật. Theo chị, điều gì lấy đi sức khỏe của họ trong quãng thời gian đó?
TS Hảo Quang: Câu trả lời quen thuộc là bệnh tim mạch, đái tháo đường, xương khớp. Điều này đúng, nhưng chưa đủ. Ở người cao tuổi, thứ khiến một người từ chỗ tự chăm sóc được chuyển sang phụ thuộc hoàn toàn vào con cháu thường không phải là chỉ số đường huyết, mà là trí nhớ và khả năng ra quyết định.
Sa sút trí tuệ là một yếu tố ảnh hưởng mạnh đến chất lượng cuộc sống ở tuổi già. Ảnh minh họa: Ngọc Thành
Tại Việt Nam, ước tính khoảng 500.000 người trên 60 tuổi mắc sa sút trí tuệ, chiếm khoảng 5% dân số ở độ tuổi này. Trên toàn cầu, đây là nguyên nhân tử vong đứng thứ bảy và là nguyên nhân gây khuyết tật, phụ thuộc hàng đầu ở người cao tuổi.
Chị có thể cho biết, quá trình suy giảm nhận thức bắt đầu từ khi nào? Có phải từ khi chúng ta nhận thấy mình chật vật nhớ tên một người, một địa danh, hay gọi ra một từ ngữ?
Nhiều người nghĩ vấn đề của não chỉ bắt đầu khi bắt đầu quên. Thực tế, năng lực nhận thức không phải một khối duy nhất mà gồm nhiều thành phần vận hành cùng nhau, và chúng không suy giảm cùng nhịp.
Khả năng tập trung và duy trì chú ý thường thay đổi sớm nhất, biểu hiện là dễ mất mạch khi làm việc, phải đọc lại một đoạn văn nhiều lần, khó theo dõi một cuộc trò chuyện có nhiều người. Tốc độ xử lý thông tin chậm lại, khiến người ta cần nhiều thời gian hơn cho những việc trước đây làm rất nhanh.
Trí nhớ sự kiện là thứ người ta nghĩ tới đầu tiên khi nói về sa sút trí tuệ, nhưng thực tế chỉ có biểu hiện rõ ràng khi đã khá muộn.
Chức năng điều hành - tức khả năng lập kế hoạch, sắp xếp thứ tự ưu tiên và chuyển đổi giữa các nhiệm vụ - giảm sút một cách khó nhận ra vì nó thường bị quy cho tính cách hoặc cho việc quá bận.
Trong giao tiếp, dấu hiệu sớm không phải là quên tên người quen mà là mất nhiều thời gian hơn để tìm từ, câu chuyện trở nên vòng vo, ít chi tiết hơn trước.
Có nghĩa là chứng sa sút trí tuệ đã ngấm ngầm hình thành từ trước khi được chẩn đoán?
Đúng vậy, nó bắt đầu từ nhiều năm, thậm chí một đến hai thập kỷ, tức khi ở độ tuổi trung niên, trước khi bệnh được chẩn đoán.
Vấn đề là những dấu hiệu sớm này gần như luôn bị gia đình diễn giải theo hai cách sai lệch: hoặc coi là chuyện tự nhiên của tuổi tác, hoặc coi là thay đổi tính khí. Người vợ trở nên khó tính hơn, người cha ít nói hơn, người mẹ hay nghi ngờ mất tiền. Đến khi gia đình đưa đi khám thì bệnh thường đã ở giai đoạn mà can thiệp chỉ còn tác dụng làm chậm, không còn tác dụng phòng ngừa.
Do đó, tôi đánh giá rất cao nội dung hướng dẫn, cung cấp kiến thức, kỹ năng chuẩn bị cho tuổi già từ khi còn trẻ đối với người từ 40 tuổi trong dự thảo Thông tư nói trên.
Tuổi trung niên là giai đoạn tập trung nhiều yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ nhất. Ảnh minh họa: Người dân đo huyết áp tại Bệnh viện Bạch Mai. Tác giả: Lê Nga
Mốc 40 tuổi mà Bộ Y tế lựa chọn cũng trùng khớp với các bằng chứng quốc tế về bảo vệ não bộ. Chẳng hạn, Ủy ban Lancet về phòng ngừa, can thiệp và chăm sóc sa sút trí tuệ khuyến nghị kiểm soát huyết áp và duy trì huyết áp tâm thu từ 130 mmHg trở xuống ngay từ tuổi 40, đồng thời phát hiện và điều trị cholesterol LDL cao bắt đầu từ tuổi trung niên. Đây là hai trong số các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi, được chứng minh có liên quan với nguy cơ sa sút trí tuệ.
Đáng tiếc là không có nội dung nào trong các hướng dẫn kiến thức, kỹ năng chuẩn bị cho tuổi già từ khi còn trẻ của dự thảo Thông tư đề cập đến não bộ và năng lực nhận thức. Trong khi đây chính là cơ hội tốt nhất để thay đổi cách hiểu về bảo vệ não bộ ở quy mô dân số.
Hiện giờ Thông tư mới ở dạng dự thảo, tức là vẫn còn cơ hội để chỉnh sửa cho hoàn chỉnh. Theo chị, nếu bổ sung nội dung não bộ và năng lực nhận thức thì liệu có tạo thêm nhiều áp lực lên ngân sách không?
Ủy ban Lancet ước tính khoảng 45% số ca sa sút trí tuệ trên toàn cầu có thể được phòng ngừa, nếu loại bỏ được 14 yếu tố nguy cơ. Đáng nói là khoảng một nửa trong danh sách 14 yếu tố đó đã nằm sẵn trong danh mục dự phòng tim mạch chuyển hóa mà dự thảo đang có: huyết áp, mỡ máu, đường huyết, cân nặng, vận động, thuốc lá, rượu bia. Phần còn lại như thính lực, thị lực, dấu hiệu trầm cảm và mức độ kết nối xã hội chủ yếu là các đánh giá đơn giản và phỏng vấn chứ không phải xét nghiệm mới. Đây là điểm khiến việc bổ sung nội dung não bộ trở nên thuận lợi về mặt chính sách, bởi nó không đòi hỏi thêm một chương trình sàng lọc riêng hay một dòng ngân sách mới, mà chỉ cần thêm nội dung vào phần việc vốn đã tồn tại trong quy trình.
Nguy cơ sa sút trí tuệ phụ thuộc một phần vào khả năng học tập suốt đời, tức tiếp tục tiếp nhận cái mới, thử thách tư duy và mở rộng vốn hiểu biết. Trong ảnh: Hai người cao tuổi chơi cờ thế trên đường phố ở Hà Nội. Tác giả: HONG SON/Pexels
Một yếu tố nữa trong danh sách 14 yếu tố mà chúng ta hay bỏ sót là trình độ học vấn. Ở tuổi 40 trở đi, yếu tố này cần được hiểu là khả năng học tập suốt đời, tức là việc một người có tiếp tục tiếp nhận cái mới, thử thách tư duy và mở rộng vốn hiểu biết hay không. Đây là yếu tố mà hệ thống y tế không thể can thiệp bằng thuốc hay xét nghiệm, nhưng chính sách hoàn toàn có thể tác động thông qua giáo dục cộng đồng.
Bên cạnh việc ghi nhận yếu tố nguy cơ, điều quan trọng không kém là người dân được trang bị kỹ năng chăm sóc và rèn luyện bộ não của mình. Các chương trình giáo dục cộng đồng là nơi tự nhiên nhất để làm việc này, với những nội dung rất cụ thể như đưa giấc ngủ và quản lý stress vào như chỉ báo sức khỏe chứ không phải chuyện lối sống tùy chọn; duy trì khả năng tập trung; rèn luyện trí nhớ; giữ cho việc sử dụng ngôn ngữ và giao tiếp xã hội luôn linh hoạt; cùng với việc duy trì thói quen học tập suốt đời. Đây là những kỹ năng có thể học, và chi phí để triển khai thấp hơn rất nhiều so với chi phí điều trị và ảnh hưởng kinh tế mà sa sút trí tuệ gây ra.
Nếu góp ý cho dự thảo Thông tư về nội dung não bộ và năng lực nhận thức, chị sẽ muốn nhấn mạnh những điểm nào?
Can thiệp về lối sống để có não bộ khỏe mạnh có giá trị ở mọi lứa tuổi, nhưng cửa sổ mở rộng nhất là hai mươi năm tuổi trung niên, khoảng từ 45 đến 65 tuổi, vì đây là giai đoạn tập trung nhiều yếu tố nguy cơ nhất theo cách phân nhóm của Lancet.
Vì vậy, điều tôi mong muốn là một mục cụ thể được thêm vào tài liệu hướng dẫn, có thể đặt tên là "Đánh giá và tư vấn sức khỏe não bộ, nhận thức". Mục này có thể gồm ba nội dung. Thứ nhất, bổ sung thính lực, thị lực, dấu hiệu trầm cảm, mức độ hoạt động nhận thức và mức độ kết nối xã hội vào bảng yếu tố nguy cơ đã có trong phiếu khám. Thứ hai, sàng lọc nhận thức ngắn bằng công cụ ba đến năm phút cho nhóm từ 60 tuổi trở lên. Thứ ba, triển khai các chương trình giáo dục cộng đồng về kỹ năng chăm sóc và rèn luyện não bộ cho nhóm từ 40 tuổi.
Một mục như vậy được thêm vào hôm nay có giá trị dự phòng rất lớn cho hai mươi năm tới. Cần biết rằng Việt Nam hiện ước tính có khoảng 500.000 người trên 60 tuổi sống chung với sa sút trí tuệ, nhưng chưa đến 1% trong số đó được chẩn đoán và điều trị.
Chuẩn bị cho tuổi già không chỉ là chuẩn bị một cơ thể còn đi lại được. Đó là chuẩn bị một bộ não còn đủ khả năng để chúng ta tiếp tục là chính mình và đóng góp cho xã hội.
Trân trọng cảm ơn chị đã trò chuyện với độc giả của Tia Sáng.
---
Chú thích:
[1] World Health Organization. Data. https://data.who.int/countries/704