Tia Sáng giới thiệu bài viết của ông Hoàng Anh Tuấn, Tổng lãnh sự Việt Nam tại San Francisco, California, Mỹ, về hành trình đi tìm đối tác để bán hàng công nghệ cao của Việt Nam vào Mỹ.
Tổng lãnh sự Hoàng Anh Tuấn (đứng thứ hai từ trái sang) giới thiệu sản phẩm công nghệ cao của các doanh nghiệp Việt Nam tới mạng lưới các doanh nghiệp tại Utah.
Đây là lần thứ ba trong nhiệm kỳ tôi đến Utah. Nhưng chuyến đi này có một sứ mệnh: dẫn theo một "đội quân công nghệ" Việt Nam để tìm thị trường, đối tác và... bán hàng.
Utah những năm gần đây nổi lên như một trung tâm công nghệ mới của Mỹ, với "Silicon Slopes" và hệ sinh thái mạnh về hàng không vũ trụ, quốc phòng, drone, vệ tinh, sinh học và công nghệ lưỡng dụng.
Ngày làm việc đầu tiên, đoàn di chuyển khoảng 170 km, với gần 10 cuộc gặp và sự kiện liên tục từ sáng sớm đến gần 22 giờ khuya. Chuyến đi này có nhiều điều đặc biệt.
Một là lần đầu tiên trong một chuyến ngoại giao kinh tế của Tổng lãnh sự quán, các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam - Viettel, Gremsy và Real-time Robotics (RtR) trực tiếp tham gia. Không chỉ kể câu chuyện Việt Nam đang nổi lên như một trung tâm công nghệ mới của Đông Nam Á, lần này chúng tôi mang theo con người, công nghệ và sản phẩm cụ thể.
Hai là chúng tôi đi... "bán hàng". Gremsy sản xuất gimbal và camera payload chính xác cao cho drone và robot, với các hệ thống EO/IR, camera nhiệt, AI tracking, zoom xa và laser đo khoảng cách; sản phẩm phục vụ cả công nghiệp, cứu hộ, an ninh và ISR. RtR phát triển các hệ thống drone tự chủ, AI xử lý ngay trên thiết bị, camera EO/IR, LiDAR và nhiều công nghệ đã đăng ký sáng chế.
Đáng chú ý, cả Gremsy và RtR đều có sản phẩm đáp ứng NDAA (National Defense Authorization Act - Đạo luật Ủy quyền Quốc phòng của Mỹ) và đạt chứng nhận Blue UAS, tức đáp ứng các yêu cầu về an ninh, chuỗi cung ứng và khả năng sử dụng trong hệ sinh thái thiết bị bay không người lái phục vụ Bộ Quốc phòng Mỹ. Đây là một "tấm vé" quan trọng để các sản phẩm công nghệ Việt Nam tiếp cận thị trường quốc phòng Mỹ.
Ba là ngoại giao kinh tế không còn chỉ nhằm thu hút đầu tư hay thúc đẩy thương mại truyền thống. Mục tiêu mới là mở thị trường Mỹ cho sản phẩm công nghệ cao của Việt Nam, cả dân sự và quốc phòng; tìm nhà phân phối, khách hàng và xa hơn là đối tác để sản xuất ngay tại Mỹ.
Đoàn làm việc với bà Deidre Henderson - Phó Thống đốc Utah và các tổ chức đại diện doanh nghiệp ở Utah để giới thiệu công nghệ Việt Nam.
Bốn là gặp đúng người. Đoàn làm việc với bà Deidre Henderson - Phó Thống đốc Utah, ông Franz Kolb - Giám đốc cơ quan phát triển kinh tế Utah, lãnh đạo Utah Manufacturers Association - tổ chức đại diện hơn 1.200 doanh nghiệp sản xuất và cung cấp dịch vụ, và lãnh đạo 47G - hệ sinh thái hàng không vũ trụ, quốc phòng và hard-tech với hơn 200 đối tác, trong đó có Boeing, Northrop Grumman, BAE Systems, Raytheon và Thales.
Năm là cách làm ngoại giao kinh tế cũng thay đổi. Nhà ngoại giao không chỉ kết nối chính phủ với chính phủ, mà cần biết kết nối doanh nghiệp với thị trường, công nghệ với vốn, sản phẩm với khách hàng, và theo đến khi cơ hội biến thành hợp đồng.
Có lẽ đó cũng là một cách cụ thể để đo hiệu quả của ngoại giao kinh tế trong kỷ nguyên công nghệ: Ngoại giao không chỉ mở được cánh cửa, mà phải cùng doanh nghiệp Việt Nam bước qua cánh cửa ấy, đưa công nghệ Việt Nam vào thị trường và biến những cái bắt tay thành những đơn hàng thực sự.