Đây được coi là một công cụ hữu hiệu nhằm tạo ra nguồn thu cho công tác bảo vệ và phát triển rừng cũng như hỗ trợ sinh kế cho các cộng đồng sinh sống gần rừng.
Theo thống kê của Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR), chương trình PFES của Việt Nam đã được triển khai tại 45 tỉnh thành (theo phân chia địa giới hành chính trước 1/7/2025) kể từ năm 2008, đóng góp hơn 1/5 tổng vốn đầu tư cho ngành lâm nghiệp nước ta. Từ năm 2011 đến năm 2016, các hợp đồng PFES đã bao phủ 44% diện tích rừng cả nước. Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu quả của các chương trình PFES thường gặp nhiều khó khăn do các tác động của PFES liên quan đến rất nhiều khía cạnh khác nhau như môi trường, chất lượng nước, nông nghiệp hay sinh kế.
Vì vậy, một nghiên cứu trên Ecological Economics do nhóm tác giả Việt Nam và Mỹ thực hiện đã đánh giá riêng tác động của chính sách PFES đối với việc bảo vệ rừng lâu năm ở nước ta. Những kết quả từ nghiên cứu này vừa khẳng định tiềm năng của PFES như một công cụ bảo tồn, vừa gợi mở những thách thức về thiết kế chính sách, thực thi và tài chính cho PFES trong giai đoạn tiếp theo.
Hiệu quả tốt dù chưa được thị trường hóa hoàn toàn
Theo lý thuyết, hệ thống PFES được thiết lập thông qua các hợp đồng giao kết tự nguyện giữa bên cung cấp và bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng, với dịch vụ được định lượng và định giá rõ ràng.
Tuy nhiên, PFES tại Việt Nam lại không có sự giao dịch trực tiếp như vậy, mà bên sử dụng dịch vụ môi trường rừng - chủ yếu là các công ty thủy điện và công ty nước sạch - sẽ trả tiền cho Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam. Quỹ này sau đó phân bổ tiền về các quỹ cấp tỉnh để chi trả cho hộ gia đình, cộng đồng, ban quản lý rừng, doanh nghiệp hoặc các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ rừng. Số tiền chi trả cũng đã được ấn định tại Nghị định 156/2018/NĐ-CP quy định về mức chi trả và xác định số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, trong đó mức chi trả PFES đối với cơ sở sản xuất thủy điện là 36 đồng/kwh điện thương phẩm, còn mức chi trả PFES đối với cơ sở sản xuất và cung ứng nước sạch là 52 đồng/m3 nước thương phẩm.
Nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra việc PFES chưa được thị trường hóa hoàn toàn như trường hợp của Việt Nam có thể làm giảm động lực tham gia của bên cung cấp dịch vụ môi trường rừng hay giảm sự minh bạch và lòng tin giữa các bên, từ đó làm suy giảm hiệu quả của hệ thống. Nhưng những phát hiện từ nghiên cứu này lại cho thấy PFES tại Việt Nam vẫn mang lại hiệu quả bảo vệ rừng đáng kể - điều được nhóm nghiên cứu thừa nhận là "khiến họ bất ngờ, thậm chí bối rối".
![]() |
Từ năm 2011 đến năm 2016, các hợp đồng PFES đã bao phủ 44% diện tích rừng cả nước. |
Tiến hành so sánh tốc độ mất rừng lâu năm ở các khu vực áp dụng và không áp dụng PFES ở Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2018, các tác giả nhận thấy, trong khi nhiều khu vực không áp dụng PFES chứng kiến tốc độ mất rừng lâu năm tăng nhanh (từ khoảng 1,5%/năm năm 2008 lên khoảng 4,5%/năm vào năm 2018), các khu vực có chương trình này lại duy trì được mức độ mất rừng ổn định hơn ở mức 1 - 2%/năm. Nói cách khác, PFES có vai trò như một tấm lá chắn giúp "giảm sốc", hạn chế mức độ suy thoái rừng tại những vùng nhạy cảm nhất trước áp lực chuyển đổi đất, khai thác gỗ hay mở rộng nông nghiệp.
Hiệu quả giảm mất rừng lâu năm của PFES được nghiên cứu đánh giá là tương đương, thậm chí cao hơn so với khu bảo tồn quốc gia. Tuy nhiên, PFES khi được triển khai với các diện tích rừng đã thuộc các khu bảo tồn không mang lại hiệu quả cao hơn so với khi triển khai với các diện tích rừng bên ngoài, cho thấy tiềm năng của PFES như một công cụ bảo vệ rừng có thể triển khai song song với các khu bảo tồn.
Đáng chú ý, hiệu quả bảo vệ rừng của PFES hầu như chưa được thể hiện trong khoảng 3 năm đầu đưa vào triển khai mà chỉ trở nên rõ rệt sau khi được áp dụng ít nhất 4 đến 5 năm. Nghiên cứu giải thích độ trễ này phản ánh thời gian cần thiết để xây dựng hợp đồng, củng cố thể chế và thay đổi hành vi quản lý rừng tại địa phương, cho thấy PFES không phải giải pháp tức thời mà là cơ chế tạo ra hiệu ứng tích lũy và bền vững. Các nhà hoạch định chính sách vì thế cũng cần kiên nhẫn hơn khi đánh giá hiệu quả của PFES, bởi các đánh giá ngắn hạn dễ dẫn đến kết luận thiếu chính xác, nhóm nghiên cứu đề xuất.
Như vậy, Việt Nam là một ví dụ cho thấy PFES không nhất thiết phải được thiết kế theo mô hình thị trường chuẩn mới mang lại hiệu quả. Thành công của Việt Nam có được là nhờ xây dựng được một hệ thống quản lý tập trung, cho phép chương trình vận hành ổn định dưới hình thức thuế và trợ cấp.
Nâng cao hiệu quả của PFES
Mặc dù hệ thống PFES tại Việt Nam được đánh giá là có "hiệu quả không ngờ" trong giảm mất rừng, nhóm nghiên cứu cho rằng vẫn có một số khía cạnh của hệ thống có thể được cải thiện để nâng cao tác động.
Đầu tiên, qua quá trình tham khảo các nghiên cứu trước đây, nhóm nghiên cứu nhận thấy dường như đang có sự bất bình đẳng trong phân bổ lợi ích từ PFES. Trong một số nghiên cứu, nhiều hộ gia đình phản ánh chi trả từ PFES thường rất hạn chế, có khi chỉ chiếm 2% thu nhập của hộ, và thấp hơn chi phí cơ hội của việc bảo vệ rừng. Ngoài ra, vẫn còn những thách thức trong xác định tỷ lệ phân chia giữa nguồn quỹ quốc gia và nguồn quỹ tỉnh, và giữa nguồn quỹ tỉnh và các tổ chức, cá nhân nhận chi trả. Trong khi đó, những nghiên cứu khác lại cho thấy ở một số địa phương, PFES chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập hộ gia đình (từ 10 đến 30%) cũng như tác động tích cực đến thu nhập, thu nhập bình quân đầu người và đa dạng hóa nguồn thu nhập của người dân. Điều này đặt ra yêu cầu cải thiện tính công bằng xã hội trong thiết kế các chính sách PFES.
Bên cạnh đó, PFES tại Việt Nam đang phụ thuộc quá nhiều vào phí sử dụng nước từ các nhà máy thủy điện và công ty nước sạch. Để mở rộng quy mô, Việt Nam cần tìm kiếm các nguồn tài chính mới như thị trường carbon, du lịch sinh thái hay các cơ chế chi trả khác. Cuối cùng, cần một hệ thống giám sát toàn diện về chất lượng rừng, đa dạng sinh học và nguồn nước để đánh giá hiệu quả PFES một cách chính xác và minh bạch hơn.
Nguồn:
https://doi.org/10.1016/j.ecolecon.2023.108078
Trà My
