Các thảo luận về drone tại Triển lãm công nghệ tự hành toàn cầu XPONENTIAL 2026, từ những chủ đề năng lực sản xuất, chuỗi cung ứng, công nghiệp hóa, chủ quyền công nghệ tới an ninh quốc gia, cho thấy drone đang dần trở thành một ngành công nghiệp chiến lược mang yếu tố địa chính trị sâu sắc.
Cuộc chiến Ukraine thay đổi nhận thức các quốc gia về drone
Dù rất non trẻ, ngành drone toàn cầu đã nhanh chóng bước vào giai đoạn công nghệ, chuỗi cung ứng bị địa chính trị hóa, và năng lực sản xuất trở thành vấn đề an ninh.
Cuộc chiến Ukraine cho thấy drone không còn là công cụ phụ trợ quay phim, chụp ảnh mang tính giải trí, mà trở thành một phần cốt tử của chiến tranh hiện đại, có nhiều loại chủng khác nhau, đảm nhận nhiều nhiệm vụ, từ camera giám sát (ISR), trinh sát, tác chiến bầy đàn cho tới tấn công tự sát bằng drone giá rẻ và dẫn đường pháo binh.
Các gian hàng giới thiệu công nghệ drone cho quân sự ở XPONENTIAL được quan tâm đặc biệt. Nhiều gian hàng ghi rõ sản phẩm có thể phục vụ cho hành quân, cho giám sát an ninh, hoặc ghi rõ đã phục vụ cho chiến trường Ukraine.
Mẫu Drone của Vampire có khả năng mang vác 15 kg đã tham gia chiến trường Ukraine tại triển lãm Xponential. Ảnh: Bảo Châu
Drone được Mỹ coi là hạ tầng chiến lược quốc gia
Chính phủ Mỹ bắt đầu đặt drone, công nghệ tự hành vào cùng nhóm ưu tiên với biên giới, chủ quyền và an ninh quốc gia. Trong phiên thảo luận được các cử tọa đặc biệt quan tâm về "Các hệ thống tự động với an ninh biên giới quốc gia", Matthew Barger, lãnh đạo các chương trình hệ thống tự hành thuộc khối Khoa học và Công nghệ của Bộ An ninh Nội địa Mỹ (DHS) nhấn mạnh hàng loạt sắc lệnh hành pháp gần đây của Nhà Trắng như Bảo vệ biên giới quốc gia, (EO 14165 Securing Our Borders), Khôi phục chủ quyền không phận (EO 14305 Restoring American Airspace Sovereignty) và đặc biệt là Mở cửa cho vị thế thống trị của ngành drone Mỹ (EO 143057 Unleashing American Drone Dominance). Chỉ riêng cách đặt tên cũng cho thấy drone được nhìn là một phần của bảo vệ biên giới lãnh thổ, chủ quyền, và an ninh nội địa.
Trong Triển lãm, chương trình American Drone Dominance cũng chiếu nhiều video nhấn mạnh vai trò lưỡng dụng của drone, giới thiệu về quy trình hỗ trợ chọn drone cho quốc phòng, an ninh nội địa và biên giới, hạ tầng trọng yếu, nông nghiệp thông qua mua sắm công (sản phẩm nào đạt các tiêu chí sẽ được mua dài hạn).
Washington đang xem hệ thống bay không người lái, công nghệ tự động hóa cho không phận là hạ tầng chiến lược mới, gắn với chủ quyền không gian. Dễ thấy điều này, khi DJI, hãng drone thương mại có thị trường lớn nhất hiện nay và các hãng drone, cung ứng cho drone từ Trung Quốc biến mất khỏi triển lãm tự hành lớn nhất toàn cầu này trong mấy năm gần đây. DJI đã bị hạn chế, sau đó cấm bán sản phẩm mới ở Mỹ, do bị Bộ thương mại Mỹ, sau đó là Ủy ban Truyền thông liên bang liệt vào danh sách hạn chế thương mại liên quan đến an ninh quốc gia.
Chuyển động địa chính trị của ngành cũng thể hiện qua việc chú trọng an ninh chuỗi cung ứng. Các doanh nghiệp giới thiệu công nghệ tại triển lãm đều ghi rất rõ nguồn gốc sản phẩm của mình, như được lọt vào Blue UAS (chương trình đánh giá các thiết bị có nguồn gốc tin cậy để bán cho quân đội Mỹ), hay NDAA chứng minh chuỗi cung ứng không liên quan đến Trung Quốc.
Trả lời Tia Sáng, các doanh nghiệp cũng cho biết, để được chứng nhận Blue UAS vào Mỹ rất phức tạp, phải xét duyệt nửa năm hoặc hơn, gửi sản phẩm kiểm tra, bóc tách mọi thành phần, từng con chip phần cứng cho tới có kiểm tra an ninh riêng về việc liệu có sơ hở cho Backdoor (tấn công cửa hậu) trong các phần mềm điều khiển drone hay không.
Cán bộ quản lý Chương trình American Drone Dominance giải thích cho các công ty trong chuỗi cung ứng drone Mỹ về quy trình, tiêu chí, các phase chọn sản phẩm drone để ký hợp đồng mua sắm công. Ảnh: Bảo Châu
Xu hướng các nước bảo hộ sản xuất drone nội địa
Vai trò drone trên chiến trường thời gian qua cũng khiến nhiều quốc gia nhận ra rằng phụ thuộc vào chuỗi cung ứng drone nước ngoài có thể trở thành rủi ro chiến lược.
Trong phát biểu khai mạc, Michael Robbins, Chủ tịch Hội tự hành toàn cầu (AUVSI) nhiều lần nhắc tới khái niệm sự nguy hiểm của việc "phụ thuộc vào [sản xuất] Trung Quốc", hay "công nghệ drone được phát minh ở Mỹ nhưng được phát triển quy mô lớn ở Trung Quốc".
Đây cũng chính là luận điểm mà nhiều công ty Mỹ hiện dùng để lý giải vì sao DJI có thể tạo ra sản phẩm vừa rẻ vừa có chất lượng cao.
Theo Robbins, bài toán của Mỹ giờ đây là năng lực sản xuất. "Quy mô sản xuất giờ trở thành một yêu cầu của chiến tranh hiện đại". Bên có lợi thế không chỉ là bên phát minh tốt hơn, mà là bên có thể sản xuất với quy mô lớn, thay thế nhanh, thích nghi nhanh và duy trì chuỗi cung ứng khi căng thẳng thương mại xảy ra.
Người Mỹ giờ đây đã biết lo ngại trước thực trạng lâu nay "Mỹ tạo ra prototype. Trung Quốc xây dựng hệ sinh thái", như nhiều lần Brendan Stewart, Phó chủ tịch cấp cao phụ trách chính sách và quan hệ chính phủ của Quỹ Red Cat Holdings nhấn mạnh.
Ông lấy ví dụ về Thâm Quyến, được xem là "thủ phủ drone" của thế giới (nơi đặt đại bản doanh của DJI). Theo Stewart, không có "quy luật tự nhiên" nào khiến Thâm Quyến giỏi sản xuất hơn Mỹ. "Các quy luật vật lý ở Trung Quốc cũng giống như ở Mỹ", ông nói. Điều tạo ra khác biệt, theo ông, là chính sách công nghiệp dài hạn, hỗ trợ của nhà nước và khả năng mở rộng sản xuất quy mô lớn.
Xu hướng các quốc gia bảo hộ drone đang ngày càng gay gắt. Mỹ cấm nhập khẩu drone Trung Quốc trong khi Trung Quốc cấm xuất khẩu drone lưỡng dụng, công nghệ và linh kiện liên quan tới drone như laser chỉ thị mục tiêu, thiết bị ảnh nhiệt hồng ngoại [1] cũng như nam châm và đất hiếm từ trước đó.
Châu Âu cũng đang bắt đầu siết các yêu cầu về "technological sovereignty" (chủ quyền công nghệ) và an ninh chuỗi cung ứng với drone và hệ thống tự hành [2]. Gần đây Ấn Độ[3], Nhật Bản[4] , Hàn Quốc[6] coi các hệ thống không người lái là một phần của chiến lược quốc phòng, tăng hỗ trợ cho sản xuất drone trong nước, yêu cầu hệ thống quân sự dùng drone và linh kiện nội địa.
"Mỹ phải cai nghiện sản xuất giá rẻ của Trung Quốc"
"Nước Mỹ đã trở nên nghiện hàng sản xuất giá rẻ từ Trung Quốc, và giờ phải cai nghiện", theo Stewart, quá trình này sẽ "rất đau đớn". "Chúng ta đã thấy tác động của việc siết DJI lên ngành công nghiệp drone - có cả mặt tích cực lẫn tiêu cực. Sẽ có những trục trặc". Giá thành sẽ tăng, thời gian giao hàng kéo dài và chi phí sản xuất cao hơn trong giai đoạn đầu.
Stewart cho rằng Mỹ đang cố sửa lại "35-50 năm sai lầm chính sách", ám chỉ giai đoạn dài mà Washington ưu tiên toàn cầu hóa và thuê ngoài sản xuất thay vì duy trì năng lực sản xuất nội địa. Nhưng nếu không xây dựng được năng lực sản xuất trong nước, Mỹ sẽ không thể đạt vị thế thống trị trong ngành drone.
Đây cũng là lý do giới công nghiệp Mỹ hiện nhấn mạnh khái niệm "dual-use" lưỡng dụng. Theo Stewart, drone không thể chỉ là sản phẩm quốc phòng đặt hàng riêng với số lượng nhỏ. Muốn giảm giá thành và mở rộng quy mô, drone phải trở thành công nghệ lưỡng dụng vừa phục vụ quân sự vừa có thị trường thương mại lớn. Ông lấy GPS làm ví dụ, ban đầu là công nghệ quân sự do chính phủ Mỹ đầu tư phát triển, nhưng sau đó mở rộng sang thị trường thương mại và trở thành nền tảng cho cả một hệ sinh thái kinh tế.
Cơ hội cho các nước tham gia chuỗi cung ứng drone
Một xu hướng nổi bật tại XPONENTIAL là việc các nước bắt đầu hối hả xây dựng những "trusted supply chains" - chuỗi cung ứng tin cậy để được vào thị trường Mỹ (chẳng hạn như được vào Blue AUS). Cách làm này rất giống cách Mỹ xây liên minh bán dẫn với Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và châu Âu.
Ông Harry Wong (giữa), sĩ quan thuộc hệ thống quốc phòng Canada, đã đi nhiều vòng triển lãm, xem xét nhiều loại drone khác nhau và chăm chú đến dự phiên trình diễn drone của RtR, sau đó lại ghé gian hàng quan sát thêm. Trả lời Tia Sáng, ông cho biết đây là loại sản phẩm mà mình đang tìm vì phù hợp với yêu cầu tác chiến, giám sát cần sản phẩm cơ động, quan sát nhiều chiều với dữ liệu chất lượng cao. Ảnh: Bảo Châu
Như vậy, cùng logic với bán dẫn và AI nhưng có lẽ ngành drone đang mở ra cánh cửa cho các doanh nghiệp mới tham gia cuộc đua này để lấp vào khoảng trống chuỗi cung ứng khi nhu cầu đột ngột tăng mạnh, trong khi hai ngành trước thì đã hình thành chuỗi khép kín và đòi hỏi vốn đầu tư khổng lồ.
Nhận định của Stewart về drone của Mỹ "thời điểm tốt nhất để bắt đầu xây dựng một ngành công nghiệp nghìn tỷ USD là 18-20 năm trước. Chúng ta đã chậm chân. Thời điểm tốt nhì là hôm nay", có lẽ cũng đúng với các nước đang đẩy mạnh sản xuất trong nước như Việt Nam muốn tham gia chuỗi mới này, trước khi thị trường khép chặt giống bán dẫn.
Đài Loan (Trung Quốc) đã chuẩn bị từ hơn chục năm trước cho ngày này của ngành drone [6]. Họ coi drone như một phần chiến lược phòng thủ bất đối xứng, muốn đạt sản lượng nội địa 200.000 drone/năm vào 2030 [7]. Tại triển lãm, không khí các gian hàng của Đài Loan thể hiện rõ các doanh nghiệp và chính quyền quyết tâm xây dựng ngành drone theo cách từng làm với bán dẫn. Họ tổ chức nhiều đoàn giới thiệu sản phẩm và khả năng sản xuất ở quy mô lớn trong triển lãm. Các chuyên gia của Đài Loan cũng tham gia tất cả các phiên chuyên đề thảo luận về chuỗi cung ứng, chính sách thu hút đầu tư vào Mỹ.
Một số ít doanh nghiệp Việt Nam đã có sản phẩm xuất khẩu vào Mỹ như RtR (drone) hay Gremsy (camera cho drone) xuất hiện tại XPONENTIAL, cho thấy họ cũng đã nhìn thấy cơ hội của ngành từ hơn 10 năm trước và theo đuổi.
Để tham gia chuỗi, nhà sản xuất có thể phải thiết kế chế tạo drone "cao cường" lưỡng dụng tích hợp nhiều hợp phần phức tạp, từ cơ khí chế tạo, kiểu dáng gấp gọn, khả năng mang vác, cho tới phần mềm tối ưu tất cả các bộ phận hợp thành drone. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng có thể tham gia vào những phân khúc hẹp hơn như gimbal, AI, payload, cho đến phần mềm vận hành...
Tại triển lãm, các ông lớn nhiều năm trong các ngành nghề truyền thống khác như HP, Canon cũng xuất hiện, mang theo các giải pháp riêng lẻ nhưng có thể triển khai ở quy mô lớn như in các bộ phận cho drone bằng 3D, giải pháp camera cho drone.
Tuy vậy, khoảng thời gian vàng này có thể không kéo dài quá lâu, thậm chí các chuyên gia tại triển lãm nhận định chỉ từ vài năm đến 5 năm. Bởi, giống bán dẫn hay pin xe điện, khi các hệ sinh thái sản xuất và tiêu chuẩn kỹ thuật dần khép kín, cơ hội tham gia chuỗi cung ứng sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều đối với những doanh nghiệp đi sau.
---
Chú thích:
[1]https://english.www.gov.cn/news/202407/31/content_WS66aa3b06c6d0868f4e8e9a14.html
[2] https://www.theguardian.com/world/2026/may/10/defence-sovereignty-europe-builds-low-cost-weapons-drones
[3] https://www.reuters.com/world/india/india-plans-230-million-drone-incentive-after-pakistan-conflict-sources-say-2025-07-04/?
[4] https://www.reuters.com/world/asia-pacific/wary-security-issues-japans-government-moves-shut-china-out-its-drone-supply-2020-10-30/?
[5] Trong chiến lược "Defense Innovation 4.0", Hàn Quốc xác định drone và hệ thống không người lái là nền tảng của quân đội tương lai. https://www.mnd.go.kr/user/boardList.action?
[6] Mỹ và Đài Loan đang thúc đẩy hợp tác xây dựng chuỗi cung ứng drone: The New York Times (2026). Taiwan and U.S. Work to Counter China’s Drone Dominance.
[7] Taiwan Needs Tech Industries Involved in Drone Push: US Official - Business Insider