Đó là khi trường học vẫn mở rộng, chương trình vẫn đổi mới, báo cáo vẫn đầy chỉ số, nhưng chúng ta chưa quan tâm đủ để trả lời một câu hỏi căn bản: giáo dục tồn tại để làm gì.
Một khi câu hỏi ấy còn chưa rõ ràng, những thứ khác rất dễ đảo lộn. Phương tiện leo lên thành mục đích. Xếp hạng lấn át chất lượng. Sự hấp dẫn bề ngoài lấn át giá trị học thuật. Sự hài lòng ngắn hạn trở nên quan trọng hơn sự trưởng thành dài hạn của người học.
Chính ở điểm này, vấn đề của giáo dục không còn chỉ là kỹ thuật điều hành mà thuộc về triết lý. Các đại học lớn trên thế giới, dù rất khác nhau về lịch sử và mô hình, vẫn gặp nhau ở một điểm cốt lõi: họ xem đại học là nơi theo đuổi chân lý, nuôi dưỡng tự do trí tuệ, kết hợp học tập với nghiên cứu, và đóng góp cho xã hội ở những chuẩn mực cao nhất.
Nhìn từ đó, câu chuyện giáo dục đại học Việt Nam hôm nay không nên chỉ được diễn tả như bài toán tuyển sinh, tự chủ tài chính, cải cách chương trình hay nâng thứ hạng. Những việc ấy đều quan trọng, nhưng đều là tầng cấp thiết thứ hai.
Tầng cấp thiết thứ nhất là phải hỏi lại: ta muốn nhà trường đào luyện mẫu người nào, và ta muốn giáo dục góp phần xây dựng một xã hội như thế nào. Không trả lời được câu hỏi ấy, mọi cải cách sẽ rất dễ chạy theo cái gần mắt nhất: doanh thu, quy mô, chỉ số, truyền thông, tính "thân thiện"...
Một khi câu hỏi giáo dục để làm gì còn chưa rõ ràng, những thứ khác rất dễ đảo lộn. Ảnh: VnExpress
Trả lời được câu hỏi ấy, ngay cả những cải cách nhỏ cũng có thể có hướng đi đúng. Bài viết này được xây dựng từ niềm tin đó: muốn chấn hưng giáo dục Việt Nam, phải bắt đầu từ việc khôi phục lại một trật tự giá trị đủ cao cho giáo dục.
Đào tạo những con người dễ thích nghi nhưng chưa chắc đáng tin
Một nền giáo dục đại học bắt đầu chệch hướng không phải khi nó quan tâm đến việc làm, năng lực nghề nghiệp hay hiệu quả xã hội. Những mối quan tâm ấy là chính đáng. Nó bắt đầu đi chệch khi những điều ấy trở thành toàn bộ định nghĩa của giáo dục. Khi đó, nhà trường không còn là nơi hình thành con người, mà thành nơi phân phối cơ hội. Người học đến trường chủ yếu để có lợi thế. Gia đình đầu tư cho giáo dục chủ yếu để thu hồi lợi ích. Cơ sở giáo dục cạnh tranh chủ yếu để thu hút khách hàng.
Trong logic ấy, chuẩn mực học thuật rất dễ bị xem là vật cản; sự nghiêm khắc rất dễ bị xem là kém thân thiện; còn chiều sâu tri thức rất dễ bị xem là thứ xa xỉ. Đây là một sự chệch hướng âm thầm, vì các chỉ số bề ngoài vẫn tốt hơn, vẫn có thể mang tên "đổi mới". Nhưng thực chất, giáo dục đang bị thu hẹp vào một nghĩa nghèo: công cụ thích nghi với thị trường.
Các đại học lớn trên thế giới cho thấy một cách hiểu khác. Harvard không diễn tả giáo dục tổng quát như một gói kiến thức phụ trợ, mà như một không gian để sinh viên học cách đặt việc học của mình vào thế giới rộng lớn hơn và đối diện những câu hỏi lớn vượt khỏi chuyên môn hẹp. Cambridge tự xác định sứ mệnh là đóng góp cho xã hội thông qua giáo dục, học tập và nghiên cứu ở mức xuất sắc quốc tế cao nhất; trong viễn kiến giáo dục, trường nhấn mạnh chiều rộng và chiều sâu của học tập, cùng mối liên hệ giữa giảng dạy, học thuật và nghiên cứu. Waseda giữ các nguyên lý sáng lập của mình trong đó có "độc lập học thuật", "vận dụng học thuật vào thực tiễn" và "bồi dưỡng những công dân tốt". Tokyo nói tới việc đào tạo "những công dân trí thức có nhãn quan toàn cầu và ý thức về tương lai". Điều này cho thấy, ở những nơi có chiều sâu, giáo dục không bị hiểu như quá trình "đáp ứng nhu cầu" theo nghĩa hẹp; nó được hiểu như quá trình hình thành con người có năng lực phán đoán, có nhân cách, và có trách nhiệm với đời sống chung.
Từ những so sánh này, chúng ta sẽ thấy căn nguyên của khủng hoảng giáo dục đại học ở Việt Nam hôm nay không chỉ là thiếu nguồn lực hay bất cập quản trị, mà sâu hơn là sự nghèo đi của quan niệm về con người và về mục tiêu của giáo dục. Khi nhà trường không còn được nhìn như nơi nâng con người lên bằng học vấn, tự do trí tuệ, nhân cách và tinh thần phụng sự, thì mọi thảo luận về cải cách đều rất dễ bị kéo xuống mặt phẳng của sự thuận tiện. Một nền giáo dục như thế có thể tạo ra nhiều người thích nghi tốt, nhưng không chắc tạo ra được nhiều người đáng tin. Và một xã hội không thể phát triển bền trên nền của sự thích nghi thuần túy. Nó cần những con người biết sống với sự thật, biết tự suy nghĩ, và biết giữ mình trước cái giả. Đây chính là điều mà các truyền thống đại học lớn luôn cố bảo vệ theo những cách khác nhau.
Bào mòn dần chuẩn mực
Suy thoái trong giáo dục đại học không thể hiện qua một sự kiện có thể nhận diện ngay. Nó đến bằng sự bào mòn dần của chuẩn mực.
Dấu hiệu đầu tiên là sự nới lỏng quan hệ với sự thật. Một nền giáo dục suy thoái không nhất thiết nói dối lộ liễu; nó thường bắt đầu bằng việc để cho ngôn ngữ phô diễn lấn át ngôn ngữ trung thực. Người ta nói nhiều hơn về xuất sắc, đổi mới sáng tạo, toàn cầu, chất lượng, nhưng ngày càng ít dũng khí nói thật về chỗ yếu, chỗ non, chỗ giả. Trong khi đó, các đại học lớn lại đặt tự do tư tưởng và sự thật ở giữa đời sống đại học. Cambridge nêu tự do tư tưởng và biểu đạt như giá trị cốt lõi. Humboldt tuyên bố sống, thúc đẩy, bảo vệ tự do, sự thật, bình đẳng, đa dạng, bao trùm và dân chủ trong giảng dạy, nghiên cứu và cam kết xã hội. UNESCO nhấn mạnh rằng tự do học thuật và tự do khoa học là thành phần trung tâm của quyền giáo dục và quyền được chia sẻ thành quả tiến bộ khoa học; không có tự do trí thức và tự chủ, năng lực theo đuổi chân lý khoa học và độ tin cậy của công việc học thuật sẽ bị suy giảm đáng kể.
Dấu hiệu thứ hai là sự thay chiều sâu bằng tính tiện lợi. Trong bối cảnh cạnh tranh tuyển sinh và áp lực tồn tại, các trường rất dễ bị cám dỗ làm cho việc học "dễ chịu" hơn: dễ vào, dễ qua, dễ hài lòng, dễ quảng bá. Nhưng đại học chân chính chưa bao giờ được xây trên sự dễ dãi. Cambridge đã nói thẳng về việc giữ vững những chuẩn mực cao nhất, phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu của việc học, và nuôi dưỡng mối liên hệ giữa giảng dạy, học thuật và nghiên cứu. Harvard mô tả giáo dục phổ quát như một không gian nơi sinh viên học cách trả lời những câu hỏi khó nằm ngoài vùng chuyên môn riêng của mình, chứ không phải nơi làm cho việc học trở nên dễ hơn. Điều ấy nhắc ta rằng giáo dục chân chính không chiều theo tâm lý muốn dễ; nó rèn luyện con người bằng cách đòi hỏi họ đi xa hơn chính mình.
Dấu hiệu thứ ba là sự tách rời giữa giảng dạy và nghiên cứu. Mô hình Humboldt có ảnh hưởng sâu rộng chính vì nó đặt sự thống nhất giữa nghiên cứu và giảng dạy ở trung tâm đại học hiện đại. Theo tinh thần đó, người học không chỉ tiếp nhận tri thức đã đóng gói, mà phải bước vào đời sống của câu hỏi, bằng chứng và phê phán. Cambridge cũng nhấn mạnh "nuôi dưỡng mối liên hệ gắn bó giữa giảng dạy, học thuật và nghiên cứu" trong viễn kiến giáo dục của mình. Khi giảng dạy bị giản lược thành chuyển giao giáo trình, còn nghiên cứu bị giản lược thành chỉ tiêu hành chính hay cuộc đua số lượng, tinh thần đại học sẽ phân rã. Việt Nam hiện nay rất cần cảnh giác với sự phân rã ấy: không phải cứ có nhiều công bố hơn là đại học mạnh hơn, nếu lớp học vẫn một chiều, vẫn nghèo câu hỏi, và người học vẫn xa lạ với tinh thần nghiên cứu.
Dấu hiệu thứ tư là sự biến dạng của tự chủ. Về nguyên tắc, tự chủ là điều kiện quan trọng của đại học hiện đại. UNESCO từ năm 1997 đã nhấn mạnh những bảo đảm cần thiết cho đội ngũ giảng dạy đại học, trong đó có quyền tiếp cận nguồn học thuật đa chiều không bị kiểm duyệt hay can thiệp trí thức, như một phần của môi trường tự do cần có cho giảng dạy, học thuật và nghiên cứu. Nhưng tự chủ có thể bị hiểu sai nếu nó chỉ còn nghĩa là tự xoay xở tài chính. Khi ấy, áp lực doanh thu có thể dần đẩy các cơ sở đào tạo đại học đến chỗ phải chiều thị trường, chiều người học, chiều chỉ số, và rồi hạ chuẩn để mua quy mô. Như vậy, vấn đề không nằm ở tự chủ tự thân; vấn đề nằm ở chỗ tự chủ có còn bị ràng buộc bởi một triết lý cao hơn lợi ích ngắn hạn hay không.
Sau cùng, dấu hiệu nghiêm trọng nhất là sự hao mòn của phẩm giá học thuật. Phẩm giá ở đây không phải là sự tự tôn hình thức của nhà trường. Nó là khả năng biết xấu hổ trước giả dối, biết từ chối thành tích ảo, biết giữ tiêu chuẩn. Một nền đại học không còn tự trọng rất khó giữ được tự chủ. Và một khi tự trọng suy giảm, mọi cải cách kỹ thuật đều chỉ chạm vào bề mặt.
(Kỳ tới: Một khung triết lý cho giáo dục đại học Việt Nam)
---
Tài liệu tham khảo
Cambridge. (n.d.). Mission and core values. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https://www.cam.ac.uk/about-the-university/how-the-university -and-colleges-work/mission-and-core-values
Cambridge. (2024). Our education vision. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https://www.cam.ac.uk/about-the-university/how-the-university -and-colleges-work/the-universitys-mission-and-core-values/ our-education-vision/
ETH Zurich. (n.d.). Our mission & strategy. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https:// ethz.ch/en/the-eth-zurich/our-mission-and-strategy.html
ETH Zurich. (2021). Strategy and development plan 2021–2024. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https://ethz.ch/content/dam/ethz/main/eth-zurich/ portraet/Strategie/ETH_SEP_21-24_EN_Web.pdf
Harvard College. (2025). Harvard college program in general education. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https://calendar.college.harvard.edu/group/harvard _college_program_in_general_education
Harvard Program in General Education. (n.d.). About. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https://gened.college.harvard.edu/about/
Humboldt-Universit¨at zu Berlin. (n.d.-a). Mission statement. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https://www.hu-berlin.de/en/university/mission-statement
Humboldt-Universit¨at zu Berlin. (n.d.-b). Overview: Humboldt-universit¨at. (Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https://www.hu-berlin.de/en/university/overview
Keio University. (n.d.). Philosophy. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https://www.keio .ac.jp/en/about/philosophy/
Keio University Faculty of Business and Commerce. (n.d.). About the faculty of business and commerce. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https://www.fbc.keio .ac.jp/en/about/
Kyoto University. (n.d.). Mission statement. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https:// www.kyoto-u.ac.jp/en/about/profile/ideals
Oxford. (2025). Strategic plan 2025–2030. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https://www.ox.ac.uk/about/organisation/strategic-plan -2018-24
Stanford University. (n.d.). Stanford history | facts. Truy xuất ngày 5/4/2026, từhttps://facts.stanford.edu/about/stanford-history
UNESCO. (1997). Recommendation concerning the status of higher-education teaching personnel. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https://www.unesco.org/ en/legal-affairs/recommendation-concerning-status-higher-education -teaching-personnel
UNESCO. (2023, June 28). Academic freedom and freedom of science. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https://www.unesco.org/en/articles/academic-freedom-and -freedom-science
University of Tokyo. (n.d.). Admissions policy of the university of Tokyo. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https://www.u-tokyo.ac.jp/en/prospective-students/ policy.html
Waseda University. (n.d.-a). Mission. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https:// www.waseda.jp/top/en/about/work/mission
Waseda University. (n.d.-b). Waseda vision 150 mission. Truy xuất ngày 5/4/2026, từ https://www.waseda.jp/inst/vision150/en/about/mission