Cách chân cầu Long Biên không xa, Bắc Biên và Bắc Cầu là hai trong nhiều làng cổ ven sông Hồng còn lưu giữ cấu trúc làng cổ, nhiều lớp trầm tích văn hóa và các di tích được xếp hạng, cùng bám trụ qua bao mùa nước lên xuống.
Theo truyền tích, Bắc Biên có nguồn gốc từ làng An Xá, nơi từng hiến đất xây kinh thành sau khi nhà Lý dời đô về Thăng Long và ra bãi sông định cư. Làng gắn với quê hương Thái úy Lý Thường Kiệt, và câu chuyện ấy vẫn được lưu giữ trên chuông chùa An Xá - bảo vật quốc gia đúc năm 1690. Còn Bắc Cầu - tên cũ là Châu Đông Cầu - cũng có lịch sử gần 15 thế kỷ. Quan trọng hơn cả, mạch sống của những ngôi làng này vẫn được gìn giữ bởi cộng đồng cư dân bản địa đã gắn bó từ ba đến mười thế hệ.
Tuy nhiên, trong dự thảo Quy hoạch phân khu sông Hồng, những ngôi làng cổ như Bắc Biên và Bắc Cầu lại đứng trước nguy cơ bị giải tỏa trên diện rộng để xây công viên cây xanh kiêm hành lang thoát lũ và hạ tầng.
Khu dân cư Bắc Cầu, Long Biên. Ảnh: VnExpress
Vấn đề nằm ở cách tiếp cận: liệu mọi khu vực đều nên áp dụng cùng một phương án tái phát triển, hay cần phân loại để xác định đâu là nơi cần bảo tồn, đâu là nơi có thể chuyển đổi thích ứng và đâu là nơi buộc phải giải tỏa vì yêu cầu an toàn thoát lũ? Liệu các làng nghề nổi tiếng có đang được ưu tiên hơn trong bảo tồn?
Nhu cầu đảm bảo an toàn thoát lũ là thiết yếu. Nhưng chính các quần cư này đã quen bám trụ và thích ứng ngập bán phần khi lũ lên qua bao thế kỷ. Vì vậy, giải tỏa toàn bộ một số ngôi làng ven sông Hồng liệu có phải là con đường duy nhất hợp lý? Nhất là khi mô hình "làng trong phố, phố trong làng" - bước chuyển tư duy coi Hà Nội như một cơ thể đô thị - văn hóa - sinh thái với nhiều lớp ký ức cần được gìn giữ, lồng ghép - đang được đưa ra như một hướng tiếp cận mới.
Câu chuyện Bắc Biên - Bắc Cầu chỉ là một phần của bức tranh lớn hơn trong Đồ án Quy hoạch chung Thủ đô tầm nhìn 100 năm, phản ánh mâu thuẫn cố hữu: làm sao để phát triển mà không đánh mất chính hồn cốt đã làm nên Thăng Long - Hà Nội.
Nếu chỉ nhìn từ hai cực "bảo tồn" và "phát triển", cuộc tranh luận dễ rơi vào thế đối đầu. Điều này càng đáng suy ngẫm khi Nghị quyết số 02-NQ/TW về "Xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới" xác định "Văn hiến - Bản sắc - Sáng tạo" là giá trị cốt lõi. Đồ án quy hoạch tổng thể thủ đô tầm nhìn 100 năm lấy hành lang sông Hồng làm trục phát triển chủ đạo, đòi hỏi cách tiếp cận bảo tồn phải thay đổi tương ứng: nhìn nhận di sản như một hệ thống tích hợp đa tầng gồm di sản vật thể, cảnh quan văn hóa và di sản sống.
Từ giữ "công trình" sang giữ "hệ di sản"
Luật Di sản văn hóa đã tạo nền tảng quan trọng cho việc bảo vệ các công trình có giá trị. Nhưng đối tượng bảo vệ chủ yếu vẫn là từng di tích riêng lẻ, chứ chưa phải toàn bộ hệ cảnh quan văn hóa, nơi di tích tồn tại. Thành ra, đình chùa được giữ nguyên nhưng không gian bao quanh có thể bị phá vỡ mà không vi phạm quy định. Khu phố cổ Hà Nội là ví dụ tiêu biểu: nhiều công trình vẫn còn, nhưng mật độ, chiều cao và chức năng sử dụng đất xung quanh đã làm phai nhạt bối cảnh lịch sử.
Trên thực tế, một di tích không chỉ được tạo nên bởi gạch đá, mà còn bởi mối tương quan với không gian và cộng đồng xung quanh.
Nhiều thành phố trên thế giới đã chuyển sang cách tiếp cận này. Khu Yanaka và các phố cổ Shitamachi ở Tokyo vẫn giữ được cấu trúc "làng trong phố" nhờ quy hoạch dựa vào cộng đồng (cơ chế machizukuri) kết hợp các quy chế kiến trúc mềm, thay vì chỉ bảo vệ từng công trình riêng lẻ.
Tinh thần ấy gợi mở cách tiếp cận với Bát Tràng và Kim Lan. Giá trị của Bát Tràng nằm ở toàn bộ hệ thống làng nghề, bến sông và cộng đồng thợ gốm vẫn đang gìn giữ nghề tổ, chứ không riêng vài đình, chùa và ngôi nhà cổ. Kim Lan lưu giữ những lớp khảo cổ Lý - Trần quý giá. Cả hai trường hợp đặt ra yêu cầu phải chủ động nhận diện và bảo vệ các giá trị di sản còn nằm trong lòng đất trước khi triển khai các dự án hạ tầng lớn. Đó là lý do nhiều quốc gia coi Khảo cổ cứu hộ (rescue archaeology) là bước bắt buộc trước mọi dự án hạ tầng lớn - một công cụ quản trị rủi ro cần sớm được thể chế hóa tại hành lang sông Hồng.
Khung tiếp cận Cảnh quan đô thị lịch sử (HUL) của UNESCO cũng chuyển câu hỏi từ "giữ công trình nào" sang "giữ hệ sinh thái văn hóa nào". Nhìn từ khung cảnh quan đô thị, sông Hồng không chỉ là dòng chảy cần chỉnh trị, mà là trục sinh thái - văn hóa với bãi bồi, hệ ngập nước và không gian mở đã nuôi dưỡng các làng cổ suốt nhiều thế kỷ. Nếu biến hai bờ thành những dải bê tông liên tục nhưng không giữ và lồng ghép các làng cổ có giá trị, ta có thể sở hữu đại lộ và đường chân trời cao ốc biểu tượng cho thịnh vượng, nhưng lại đánh mất chính bản sắc, mạch nguồn văn hóa tạo nên vùng đất này.
Làng đào Nhật Tân. Ảnh: Ngọc Thành
Hồ Tây cũng vậy. Hơn 70 di tích quanh hồ, trong đó có 24 di tích quốc gia và quốc gia đặc biệt, tồn tại như một chỉnh thể gắn với mặt nước và đường chân trời lịch sử. Kiến trúc mỗi di tích chỉ là một phần của hệ cảnh quan văn hóa - thiên nhiên - phong thủy. Giá trị của Hồ Tây nằm ở sự cộng hưởng không thể tách rời giữa mặt nước, thế đất, sân vườn, lối tiếp cận cùng lớp ký ức - tâm linh tích tụ qua nhiều thế hệ. Vì thế, dù không phá bỏ bất kỳ di tích nào, việc xây đường cơ giới lớn ven hồ hay xây dựng các công trình quy mô lớn vẫn có thể làm tổn thương toàn bộ hệ cảnh quan và làm suy giảm giá trị di sản.
Khoảng trống lớn hiện nay là nhiều giá trị tạo nên ký ức Hà Nội như những khu phố cổ thấp tầng, phố nhỏ ngõ nhỏ quanh co, lớp mái ngói lô xô, hay "cây đa - bến nước - con đò" chưa có cơ chế pháp lý đủ mạnh để bảo vệ, khi Luật Di sản văn hóa vẫn chủ yếu tập trung vào "điểm" chứ chưa phủ rộng sang "cảnh quan đô thị" và "di sản sống" theo khuyến nghị HUL năm 2011.
Một cơ thể đô thị - văn hóa - sinh thái
Nếu hai tầng trên bảo vệ công trình và cảnh quan, thì tầng thứ ba hướng tới điều cốt lõi nhất: con người. Năm 2019, ICOMOS thông qua Tuyên bố Hà Nội về Di sản sống, khẳng định cộng đồng phải là chủ thể bảo tồn. Nhưng tinh thần đó vẫn cần được cụ thể hóa rõ hơn trong các bản đồ quy hoạch hiện nay.
Đối với hành lang sông Hồng, di sản sống là mạng lưới làng nghề như Bát Tràng, Kim Lan, Nhật Tân, Tứ Liên; là nghề trồng đào, trồng quất, tập quán canh tác vùng bãi và ký ức nhiều thế hệ. Nếu cư dân bị di dời, sinh kế biến mất thì di sản cũng chỉ còn lại phần xác vật chất. Một làng nghề vắng người làm nghề sẽ thành bảo tàng; một ngôi làng thiếu cư dân bản địa sẽ thành phim trường.
Làng gốm Bát Tràng. Ảnh: VnExpress
Có ý kiến cho rằng giữ làng cổ ven sông là "lãng mạn hóa" cảnh sống khó khăn. Thực tế quốc tế chứng minh điều ngược lại: di sản sống là tài sản kinh tế dài hạn nếu được quản trị đúng. Bologna (Ý) từng thành công nhờ kết hợp bảo tồn với chính sách nhà ở xã hội để giữ chân cộng đồng gốc. Bilbao (Tây Ban Nha) tỏa sáng không phải vì thay thế quá khứ bằng các công trình biểu tượng danh tiếng, mà nhờ để khu phố cổ Casco Viejo cộng sinh hòa hợp cùng kiến trúc mới.
Hà Nội cũng cần tạo điều kiện cho sự cộng sinh đó bằng một công cụ điều phối không gian mới là Bản đồ Di sản Đô thị Đa tầng. Thay vì thuần túy là bản đồ các di tích, bản đồ này tích hợp các lớp giá trị vật thể, cảnh quan và cộng đồng, giúp Hà Nội xác lập vùng lõi bảo vệ tuyệt đối, vùng chuyển đổi có kiểm soát theo mô hình "làng trong phố" và vùng phát triển mới. Khi những giá trị không thể thay thế được xác lập bằng cơ sở khoa học, phần không gian còn lại sẽ trở thành dư địa để thành phố phát triển mạnh mẽ và sáng tạo hơn.
Từ công cụ thể chế đến năng lực quản trị
Bảo tồn không đồng nghĩa với giữ nguyên mọi thứ. Điều cần giữ là những cấu trúc còn mang giá trị lịch sử, văn hóa và cảnh quan để trở thành hạt nhân của cấu trúc đô thị mới. Đó cũng là tinh thần của chủ trương "làng trong phố, phố trong làng". Ở chiều "làng trong phố", các làng cổ tiếp tục được tổ chức trong không gian đô thị. Ở chiều "phố trong làng", hạ tầng và dịch vụ hiện đại được đưa vào theo cách tôn trọng cấu trúc và đời sống cộng đồng. Cái mới không thay thế cái cũ, mà cùng tồn tại và làm giàu cho nhau.
Muốn làm được, trước hết cần khảo sát và kiểm kê toàn diện các làng ven sông Hồng còn giá trị, thay vì áp dụng một phương án chung cho toàn tuyến. Trên cơ sở đó mới có thể phân loại khu vực cần bảo tồn, khu vực có thể cải tạo thích ứng thông minh và khu vực buộc phải giải tỏa vì yêu cầu an toàn thoát lũ.
Đồng thời, ba tầng bảo tồn - di sản vật thể, hệ cảnh quan văn hóa và di sản sống - cần được tích hợp ngay từ đầu trong quy hoạch. Một bước đi quan trọng là thể chế hóa Bản đồ Di sản Đô thị Đa tầng gắn với giá trị pháp lý ràng buộc trong quy hoạch, giúp xác định rõ các vùng bảo tồn, vùng chuyển đổi lồng ghép cũ - mới và vùng dư địa phát triển. Khi những giới hạn cần gìn giữ được xác lập bằng cơ sở khoa học và minh bạch, phát triển không còn là xóa bỏ cái cũ, mà là sáng tạo trên nền tảng những giá trị đã có.
Cần triển khai ba nhóm giải pháp: bổ sung Đánh giá tác động di sản (HIA) và Khảo cổ cứu hộ vào quy trình chuẩn bị dự án như công cụ quản trị rủi ro bắt buộc; xây dựng cơ chế quản lý di sản dựa vào cộng đồng để người dân trở thành chủ thể gìn giữ và hưởng lợi từ bảo tồn; đồng thời thể chế hóa Bản đồ số Di sản đa tầng trên nền tảng GIS như một công cụ pháp lý trong quy hoạch.
Tuyên bố Davos (2018) đưa ra khái niệm Baukultur - văn hóa xây dựng tích hợp, coi chất lượng của một đô thị không chỉ được đo bằng số lượng công trình mới, mà còn bằng khả năng gìn giữ và phát huy những giá trị được bồi đắp qua nhiều thế hệ.
Quy hoạch Thủ đô 100 năm, suy cho cùng, không phải là xây thêm bao nhiêu cây cầu, bao nhiêu đại lộ hay bao nhiêu khu đô thị mới. Điều quan trọng hơn là chúng ta muốn trao lại cho thế hệ sau một Hà Nội như thế nào. Giữ di sản không phải là cản trở phát triển, mà là một cách phát triển có chiều sâu, giàu bản sắc và bền vững cùng thời gian - để sang thế kỷ sau, Hà Nội vẫn có thể nhận ra chính mình.