![]() |
Đồng ruộng tại ĐBSCL nứt nẻ trong hạn mặn. |
Một nghiên cứu mới đây của TS. Trịnh Thị Trà, Viện Nghiên cứu Nhận thức Rủi ro của Công chúng, Đại học Quốc gia Singapore, và cộng sự có tên "Climate change and migration decisions: A choice experiment from the Mekong Delta, Vietnam" đã đi sâu lý giải những nguyên nhân hệ thống dẫn đến lựa chọn tha hương của người dân ĐBSCL và phần nào dự báo áp lực do những luồng di cư này mang lại lên các địa phương.
Để làm điều này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thí nghiệm lựa chọn. Theo đó, họ thiết kế các kịch bản dựa trên các tổ hợp với mức độ tác động khác nhau của sáu yếu tố là (i) hạn hán và xâm nhập mặn; (ii) lũ lụt; (iii) khoảng cách thu nhập giữa nơi ở hiện tại và điểm đến; (iv) mạng lưới quan hệ tại điểm đến, (v) số lượng hàng xóm đã từng di cư; và (vi) hạn chế về lựa chọn cây trồng. Các nhà nghiên cứu đã thảo luận những kịch bản này với khoảng 350 hộ gia đình ở hai tỉnh Kiên Giang (nay là An Giang) và Long An (nay là Tây Ninh), từ đó nhận diện yếu tố nào tác động lớn nhất tới quyết định di cư của họ.
Trong một nghiên cứu trước đó, TS. Trịnh Thị Trà và cộng sự đã ước tính1 khoảng 1,1 triệu người - tương đương 6,4% dân số ĐBSCL có thể di cư khỏi những vùng nông thôn của khu vực này đến năm 2050. Trong trường hợp kịch bản biến đổi khí hậu tồi tệ nhất là nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng thêm 5oC vào cuối thế kỷ này, lên tới 11,6% dân số ĐBSCL có thể sẽ di cư đến năm 2050.
So với lũ lụt, hạn hán khiến người dân di cư nhiều hơn
Từ trước tới nay, các nghiên cứu về chủ đề tương tự thường chỉ tập trung vào tác động của lũ lụt, khiến nhiều người tưởng rằng hiện tượng thiên tai dữ dội, có thể quét sạch của cải của các gia đình trong chớp mắt mới là nguyên nhân chính thúc đẩy quyết định di cư của họ. Tuy nhiên, nghiên cứu này - có điều kiện đặt cùng lúc lũ lụt và hạn hán cạnh nhau trên bàn cân quyết định của người dân - lại cho thấy hạn hán, xâm nhập mặn có ảnh hưởng "âm thầm" mới là tác nhân quan trọng nhất.
TS. Trịnh Thị Trà cho rằng đợt hạn hán và xâm nhập mặn lịch sử năm 2016 tại ĐBSCL đã trở thành một nỗi ám ảnh khó nguôi ngoai với người dân ở đây. Đợt hạn mặn này đã khiến gần 225.000 ha lúa, hơn 6.600 ha hoa màu, 5.000 ha nuôi thủy sản bị thiệt hại, 9.400 ha cây ăn quả bị ảnh hưởng và hàng trăm nghìn hộ dân thiếu nước sinh hoạt. Theo một bài báo trên Tuổi trẻ, "chỉ riêng hai tỉnh Kiên Giang và Sóc Trăng đã có hơn 40.000 người bỏ quê đi làm ăn xa trong điều kiện túng quẫn"2. Cuộc khảo sát của nhóm nghiên cứu được thực hiện sau đó ít năm, khi ấn tượng về sự kiện này vẫn còn sâu đậm. Đối với những người đã từng chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, những hiện tượng thiên nhiên khắc nghiệt tiếp theo càng thúc đẩy họ rời khỏi mảnh đất cũ, nghiên cứu phát hiện.
Hơn nữa, trong nhiều trường hợp, lũ lụt gây thiệt hại khiến các gia đình không còn nguồn lực để di cư, do vậy các gia đình nghèo nhất buộc phải ở lại sống chung với thiên tai và thường kiệt quệ về kinh tế3. Trong khi đó, hạn hán và xâm nhập mặn tác động từ từ, vẫn để lại cho người dân chút thu nhập từ mảnh đất của mình nhưng cũng đủ để họ nhận ra thu nhập đó đang giảm dần. Một nghiên cứu đã chỉ ra tình trạng xâm nhập mặn làm giảm trung bình 4,679 triệu đồng/ha doanh thu ròng từ lúa của người nông dân4. "Đến một thời điểm mà người dân thấy sinh kế ở vùng mình đang sinh sống không đáp ứng được nữa thì họ có thể sẽ quyết định di cư", TS. Trịnh Thị Trà giải thích.
Suy giảm thu nhập do hạn chế lựa chọn cây trồng
Yếu tố quan trọng thứ hai trong quyết định cân nhắc di cư của người dân là yêu cầu về hạn mức diện tích trồng lúa. Để đảm bảo an ninh lương thực, chính phủ quy định một tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp nhất định của địa phương phải là đất trồng lúa (đất canh tác ít nhất một vụ lúa trong năm) và cấm chuyển đổi đất trồng lúa sang mục đích khác. Yêu cầu này ngày càng được tuyên bố rõ ràng trong các Luật Đất đai gần đây và các văn bản pháp luật như Nghị quyết số 39/2021/QH15 về Quy hoạch sử dụng đất quốc gia thời kỳ 2021 – 2030. Bản thân chính sách hạn mức diện tích trồng lúa cũng là hệ quả của biến đổi khí hậu do lo ngại năng suất lúa sẽ bị suy giảm và người dân sẽ từ bỏ việc trồng lúa (độ mặn tăng 1 g/l sẽ làm giảm năng suất lúa 0,197 tạ/ha5). Là vựa lúa của cả nước nên ĐBSCL có tỷ lệ đất nông nghiệp chịu ảnh hưởng bởi chính sách này lớn nhất.
Nếu như những tác động của thiên nhiên vốn đã siết chặt thu nhập của người dân ĐBSCL thì chính sách này càng khiến túi tiền của họ thêm hẹp lại. Nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra việc quy định hạn mức đất trồng lúa đã làm suy giảm năng suất và thu nhập của hộ gia đình làm nông cũng như GDP của cả địa phương (một nghiên cứu ước tính việc xóa bỏ tất cả các hạn chế về sử dụng đất có thể giúp tăng 8,03% GDP bình quân đầu người tại địa phương6). Vì vậy, việc bắt buộc phải trồng lúa có thể thúc đẩy nông dân đa dạng hóa thu nhập bằng cách di cư để tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp ở các tỉnh, thành phố khác, nghiên cứu của TS. Trịnh Thị Trà và cộng sự viết. Hạn mức này càng chặt chẽ, người dân càng có khả năng đưa ra quyết định di cư. Mô hình dự báo của nhóm chị ước tính các hạn chế lựa chọn cây trồng có thể dẫn đến gần 350.000 người di cư ra khỏi các tỉnh ven biển ĐBSCL đến năm 2050 theo kịch bản biến đổi khí hậu tồi tệ nhất.
Các hạn mức về diện tích đất trồng lúa rõ ràng cần được nới lỏng, nhưng "đây là sự thay đổi không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp mà còn ảnh hưởng đến cấu trúc kinh tế của cả một khu vực, do đó cần được cân nhắc kỹ lưỡng với sự tham gia của các chuyên gia liên ngành", TS. Trịnh Thị Trà nhận xét. Tuy vậy, chị cho rằng vẫn có một số giải pháp cho vấn đề này. Nới lỏng quy định về hạn mức đất trồng lúa đồng nghĩa với việc diện tích canh tác giảm xuống. Vì vậy, để đảm bảo sản lượng và an ninh lương thực, cần chú trọng các giải pháp như cải tạo chất lượng đất, đầu tư kỹ thuật và giống cây trồng nhằm nâng cao năng suất. Một số nghiên cứu khác đề xuất phương án xen canh trên đất trồng lúa hoặc chuyển đổi sinh kế của người dân từ nông nghiệp sang công nghiệp hoặc dịch vụ.
Hệ lụy về kinh tế và an sinh xã hội
Trong khi các yếu tố nhân khẩu học khác như giới tính, dân tộc hay trình độ học vấn không tác động đáng kể đến quyết định di cư, tuổi tác lại là một yếu tố quan trọng kìm hãm việc người dân chuyển đến một địa phương khác. "Về lâu dài, nếu luồng di cư này lớn, nó sẽ làm thay đổi cấu trúc dân cư và sinh kế nghề nghiệp ở cả địa phương tiếp nhận cũng như các tỉnh ĐBSCL", TS. Trịnh Thị Trà đánh giá.
Cụ thể, nhóm người lớn tuổi trong nghiên cứu có sự kháng cự rõ rệt trong việc di cư trong bất kỳ kịch bản thiên tai nào. Những người này thường có năng suất lao động thấp hơn hoặc không còn lao động nên phát triển kinh tế, GDP và thu ngân sách của các vùng nông thôn ĐBSCL chắc chắn sẽ giảm. Hơn nữa, những người lớn tuổi trên thường không có lương hưu, bảo hiểm xã hội hay bảo hiểm y tế, đặt ra gánh nặng lớn lên hệ thống an sinh xã hội và hỗ trợ người cao tuổi ở địa phương. Ngoài ra, các tỉnh này còn phải tính đến những chính sách để giúp những người lớn tuổi thích nghi với tình hình biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp tại ĐBSCL, như cung cấp thông tin, hỗ trợ tài chính hay hỗ trợ họ sơ tán trong trường hợp thiên tai.
Mặt khác, dòng di cư ồ ạt từ vùng nông thôn ĐBSCL sẽ ảnh hưởng đến quy mô và mật độ dân số của các thành phố đích, phổ biến nhất là TP. Hồ Chí Minh. Theo kịch bản biến đổi khí hậu trung bình (nhiệt độ trung bình toàn cầu sẽ tăng khoảng 2 - 3°C vào cuối thế kỷ này) và giả sử 40% lượng người di cư từ ĐBSCL sẽ tới TP. Hồ Chí Minh, nơi này có thể tiếp nhận hơn 1,2 triệu người di cư trong những thập kỷ tới. Nhóm nghiên cứu của TS. Trịnh Thị Trà đánh giá con số này có thể nằm trong khả năng hấp thụ của TP. Hồ Chí Minh, nhưng đô thị này vẫn cần những chính sách để chủ động đón nhận họ một cách hiệu quả.
[1] https://doi.org/10.1016/j.jocm.2023.100428
[2] https://tuoitre.vn/di-chung-han-man-1096219.htm
[3] https://environmentalmigration.iom.int/sites/g/files/tmzbdl1411/files/documents/vietnam_survey_report_vn_0.pdf
[4] https://doi.org/10.1016/j.heliyon.2023.e20367
[5] http://tsdt.tapchivaas.vn/_Epaper/files/library/site-6/20230830/2022-08/tc4-2022_0.pdf
[6] https://doi.org/10.1016/j.jdeveco.2020.102465
Bài đăng KH&PT số 1363 (số 39/2025)
Trà My
