Cơn bão số 5 đổ bộ vào miền Trung nước ta trong ngày 25-26/8 vừa qua đã gây ra những thiệt hại nặng nề về tài sản và hoa màu của người dân, nhưng những thiệt hại về con người đã được hạn chế so với những cơn bão được cho là đặc biệt phức tạp, nguy hiểm trước đây, một phần nhờ quyết định sơ tán khẩn trương gần 30.000 người dân sinh sống tại các khu vực nguy cơ cao trước khi bão đổ bộ vào đất liền. Việc huy động được một lượng lớn người dân sơ tán như vậy không chỉ cần đến những nguồn lực khổng lồ về tài chính, vật lực và con người mà đòi hỏi các đơn vị triển khai phải thấu hiểu tâm lý và động lực của người dân để thuyết phục họ sơ tán.
Một nghiên cứu mới công bố trên International Journal of Disaster Risk Reduction của nhóm tác giả từ ĐH Huế và ĐH Tsukuba (Nhật Bản) đã tìm hiểu về những động lực này qua việc khảo sát 407 hộ gia đình tại ba huyện Phong Điền, Quảng Điền và Hương Trà, TP Huế (theo phân chia đơn vị hành chính trước 1/7/2025). Đây là những địa phương chịu thiệt hại nặng nề nhất trong đợt lũ nghiêm trọng vào tháng 10-11/2020 tại miền Trung nước ta.
![]() |
Lực lượng công an giúp người dân ở vùng thấp trũng sơ tán đến nơi an toàn trong đợt lũ năm 2020 tại Huế. Ảnh: NLĐ |
Yếu tố nhân khẩu học không phải chìa khóa
Phát hiện bất ngờ nhất từ nghiên cứu là các yếu tố nhân khẩu học – xã hội, vốn thường được coi là có ảnh hưởng lớn đến hành vi ứng phó thiên tai của hộ gia đình, lại không có ý nghĩa thống kê sau khi phân tích hồi quy. Giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn của chủ hộ và việc gia đình có thành viên dễ bị tổn thương (trẻ nhỏ, người già, người khuyết tật) đều không có tác động rõ ràng đến việc hộ gia đình có sơ tán không. Điều này trái ngược với nhiều nghiên cứu quốc tế từng kết luận hộ gia đình có trẻ nhỏ hoặc có phụ nữ làm chủ hộ thường có xu hướng sơ tán cao hơn.
Theo nhóm tác giả, sự khác biệt có thể xuất phát từ đặc trưng văn hóa – xã hội ở nông thôn Việt Nam với sự gắn kết cộng đồng chặt chẽ. Mặc dù điều này có nghĩa là các hộ gia đình có thể nhận được sự hỗ trợ cộng đồng lớn trong những tình huống khó khăn, nó cũng có thể tạo ra một số chủ quan nhất định trước thiên tai của hộ gia đình. Trong một số trường hợp, các nhà lãnh đạo cộng đồng hoặc các thỏa thuận tập thể có thể ảnh hưởng đến quyết định sơ tán nhiều hơn là đặc điểm của từng hộ gia đình.
Các tác giả cũng lưu ý gần 96% người tham gia nghiên cứu chỉ học hết cấp trung học cơ sở hoặc thấp hơn, và chỉ 4% học hết trung học phổ thông. Trình độ học vấn đồng đều và tương đối thấp này có thể không đủ để tạo ra bất kỳ sự khác biệt nào về nhận thức rủi ro, khả năng tiếp cận thông tin hoặc niềm tin vào các cảnh báo chính thức - những yếu tố thường đóng vai trò thiết yếu trong các quyết định sơ tán.
Nghiên cứu phân tích thêm rằng những người có trình độ học vấn cao hơn thường hiểu các rủi ro thiên tai và thực hiện các hành động bảo vệ, nhưng họ cũng có thể đánh giá quá cao khả năng của bản thân trong quản lý những rủi ro này và trì hoãn việc sơ tán. Ngược lại, những người có trình độ học vấn thấp hơn có thể thiếu thông tin chính xác hoặc không tin tưởng vào các cảnh báo chính thức, dẫn đến do dự hoặc từ chối sơ tán.
Lo ngại về tính khó lường của thiên tai
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy nhận thức về tính khó lường của lũ là yếu tố mạnh mẽ nhất thúc đẩy hành vi sơ tán. Khi kiểm soát các biến số khác, mức độ khó lường của lũ lụt cứ tăng thêm một cấp độ thì khả năng di tản của hộ gia đình lại tăng thêm ba lần.
Biến đổi khí hậu và việc vận hành các công trình thủy điện và thủy lợi quy mô lớn là những yếu tố chính khiến lũ lụt tại miền Trung trở nên khó lường. "Dựa vào kiến thức truyền thống để dự đoán cường độ lũ lụt ngày càng kém hiệu quả kể từ khi có các đập thủy điện và thủy lợi. Mưa lớn và các đập xả lũ luôn dẫn đến lũ lụt nghiêm trọng. Bắt buộc phải sơ tán sớm khi thấy dấu hiệu lũ lụt dâng cao để đảm bảo an toàn", một người dân ở huyện Phong Điền chia sẻ trong nghiên cứu.
Ngược lại, nhận thức về mức độ nghiêm trọng của lũ (nước dâng cao hay dữ dội hơn) lại không cho thấy ảnh hưởng rõ rệt tới quyết định sơ tán của các hộ gia đình. Có tới 42,75% người được khảo sát cho rằng cường độ lũ không có thay đổi đáng kể hoặc thậm chí đang giảm, dẫn tới tâm lý lơ là, chủ quan trong phòng ngừa, sơ tán. Từ phát hiện này, nhóm nghiên cứu đề xuất các thông điệp tuyên truyền nâng cao nhận thức và cảnh báo thiên tai cần nhấn mạnh tính khó lường, bên cạnh mức độ nghiêm trọng, của lũ trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hoạt động của các công trình thủy điện.
Tác động phức tạp của niềm tin
Theo nghiên cứu, yếu tố niềm tin có những tác động lớn và tương đối phức tạp đến quyết định sơ tán của người dân. Một mặt, niềm tin quá lớn vào khả năng ứng phó với thiên tai của bản thân và sự hỗ trợ từ cộng đồng làm nảy sinh tâm lý "lạc quan thiếu thực tế" và khiến người dân không sơ tán. Mức độ tin tưởng của hộ gia đình vào sự chắc chắn của kết cấu nhà ở cứ tăng thêm một cấp độ thì khả năng sơ tán của họ lại giảm thêm gần 30%.
Nhiều hộ gia đình có thể chọn không sơ tán nếu họ ở nhà có kết cấu kiên cố và gác mái chắc chắn, nhưng những hộ này chỉ chiếm lần lượt 20,15% và 11,30% đối tượng khảo sát. Hầu hết các hộ gia đình còn lại ở trong những căn nhà bán kiên cố với gác mái tạm thời, thường chỉ chịu được lũ lụt cường độ nhỏ. Dẫu vậy, không ít người dân vẫn rất tin tưởng vào sự kiên cố của căn nhà của mình. "Tôi được thừa kế căn nhà này từ ông cha. Nó được gia cố thêm bằng gạch, xi măng và ngói lợp, và tôi tin nó đủ chắc chắn để chịu được lũ lụt. Nếu nước lũ dâng cao, tất cả các thành viên trong gia đình sẽ chuyển lên gác xép", một phụ nữ ở huyện Hương Trà nói. Tuy nhiên, khi được hỏi liệu gác xép có đủ chỗ cho cả năm thành viên trong gia đình, chị tỏ ra không chắc chắn và do dự về vấn đề an ninh. Vì vậy, chính quyền nên có các biện pháp phân loại, đánh giá khả năng chống chịu của từng loại nhà ở (tạm bợ, bán kiên cố, kiên cố) để người dân thấy rõ giới hạn an toàn của nơi ở mình.
Tương tự, những hộ gia đình đã xác định các tuyến đường sơ tán, chuẩn bị phương tiện di chuyển (như thuyền nhỏ hoặc bè tự chế) và mua sắm các thiết bị hỗ trợ (như áo phao, đèn pin, điện thoại di động và thuốc men cần thiết) đều có khả năng sơ tán thấp hơn.
![]() |
Các lực lượng viện trợ nhu yếu phẩm cho người dân bị ảnh hưởng bởi đợt lũ năm 2020 tại Huế. Ảnh: Lao động |
Ngoài ra, niềm tin vào sự hỗ trợ bên ngoài từ chính quyền địa phương hoặc hàng xóm cũng làm giảm động lực sơ tán. Nhiều người ở lại vì tin rằng lực lượng cứu hộ sẽ kịp thời đến giúp hoặc láng giềng sẽ "tắt lửa tối đèn" có nhau. Nhưng trên thực tế, các địa phương thường có nguồn lực tài chính hạn hẹp, trang thiết bị sơ tán khẩn cấp tại địa phương còn tương đối hạn chế và phần lớn phụ thuộc vào sức người, các công cụ và thiết bị cơ bản, nên việc cứu hộ nhiều hộ gia đình trong thời gian ngắn khi lũ lụt xảy ra bất ngờ là một thách thức rất lớn, như khẳng định của một trưởng thôn được phỏng vấn trong nghiên cứu.
Các tác giả cho rằng các thông điệp truyền thông cần nhấn mạnh những hạn chế này và làm rõ những rủi ro mà các gia đình phải đối mặt khi họ không thể tiếp cận sự hỗ trợ từ bên ngoài trong các trường hợp khẩn cấp, từ đó khuyến khích người dân nâng cao trách nhiệm với sự an toàn của chính bản thân và gia đình.
Mặt khác, người dân dù rất tin tưởng vào sự trợ giúp từ chính quyền địa phương và hàng xóm nhưng nỗi sợ mất tài sản trong quá trình sơ tán ảnh hưởng đáng kể đến quyết định sơ tán. Những hộ càng lo sợ bị mất cắp hoặc hư hỏng tài sản trong lúc sơ tán thì càng ít có khả năng rời đi. Phát hiện này cũng không khó hiểu khi với nhiều gia đình, những tài sản như trâu bò, lồng cá hay nông cụ chính là sinh kế, nên họ rất sợ viễn cảnh trở về sau lũ với hai bàn tay trắng. Vì vậy, cần tăng cường biện pháp bảo vệ tài sản trong mùa lũ như tuần tra an ninh hay hỗ trợ sơ tán gia súc cho người dân.
Nguồn:
https://doi.org/10.1016/j.ijdrr.2025.105315
Trà My

