Việc giảng dạy các chuyên ngành - ví dụ như kinh tế, công nghệ sinh học hay công nghệ thông tin - bằng tiếng Anh được khởi động mạnh mẽ ở Việt Nam từ sau năm 2008, khi Chính phủ ban hành đề án nâng cao năng lực ngoại ngữ toàn quốc. Mô hình này được kỳ vọng sẽ giúp sinh viên "trúng hai đích": vừa giỏi ngoại ngữ, vừa nắm được chuyên môn theo chuẩn quốc tế.
Tuy nhiên, thực tế triển khai đã cho thấy không ít bất cập. Nhiều sinh viên không theo kịp bài giảng vì rào cản ngôn ngữ, không thể viết báo cáo chuyên ngành bằng tiếng Anh, và cảm thấy lạc lõng trong lớp học. Trong khi đó, đội ngũ giảng viên chưa được đào tạo chuyên sâu để giảng dạy bằng ngoại ngữ, còn các lớp hỗ trợ tiếng Anh lại không hiệu quả.
Dù vậy, các chương trình này vẫn thường được quảng bá như một lựa chọn ưu việt.
Để trả lời cho câu hỏi "Sinh viên thực sự nghĩ gì khi theo học các chương trình này?", TS. Nguyễn Phương Bảo Trân (Khoa Ngoại ngữ, Trường ĐH Cần Thơ) cùng các đồng nghiệp Bỉ đã thực hiện một trong những khảo sát đầu tiên tại Việt Nam.
Theo đó, các nhà nghiên cứu không chỉ đo lường động lực học tập mà còn tìm hiểu sâu về những nguyên nhân khiến động lực ấy tăng hoặc giảm, dựa trên lý thuyết tâm lý học hiện đại về nhu cầu và cảm xúc của người học, gọi là Self-Determination Theory (tạm dịch: Thuyết tự quyết).
![]() |
Thuyết tự quyết gồm 6 nhánh lý thuyết nhỏ (mini-theories), trong đó nhánh nhu cầu tâm lý cơ bản giải thích động lực phụ thuộc vào việc thỏa mãn ba tâm lý: có năng lực, kết nối và tự chủ. Ảnh: KH&PT |
Thuyết này giải thích cách thức và lý do vì sao con người có thể duy trì động lực một cách bền vững.
Khi nói về động lực, các nhà khoa học biết rằng những động lực nội tại (self-determined motivation), xuất phát từ bản thân, là dạng động lực mạnh mẽ nhất, không cần đến các mục tiêu bên ngoài để duy trì. Ngược lại, các động lực từ bên ngoài sẽ dần suy yếu nếu không nhận được sự hỗ trợ từ các yếu tố xung quanh như giáo viên, phụ huynh, bạn bè, hoặc các mục tiêu ngoại lai như học bổng hay việc làm tốt nhờ nỗ lực học tập.
Thuyết tự quyết gồm 6 nhánh lý thuyết nhỏ (mini-theories), trong đó nghiên cứu sử dụng nhánh nhu cầu tâm lý cơ bản, giải thích động lực nội tại phụ thuộc vào việc thỏa mãn ba nhu cầu tâm lý cơ bản: cảm thấy mình có năng lực (tự tin học được), có kết nối (với thầy cô, bạn bè, môi trường học), và có quyền tự chủ (được lựa chọn, không bị ép buộc).
Cụ thể, TS. Nguyễn Phương Bảo Trân và các đồng nghiệp đã khảo sát 339 sinh viên đang học chương trình chuyên ngành giảng dạy bằng tiếng Anh tại một đại học công lập lớn ở miền Nam.
Các sinh viên đến từ tất cả các năm học và thuộc 7 khoa của trường, gồm: Nông nghiệp (9%), Nuôi trồng thủy sản (3%), Công nghệ sinh học (26%), Kinh tế (32%), Công nghệ kỹ thuật (7%), Công nghệ thông tin và truyền thông (17%), Ngoại ngữ (4%).
Dữ liệu cho thấy, phần lớn sinh viên chọn chương trình học bằng tiếng Anh vì tin rằng sẽ giúp họ có lợi thế nghề nghiệp, nâng cao trình độ tiếng Anh, và có cơ hội nhận học bổng hoặc làm việc ở công ty nước ngoài. Một số bị ảnh hưởng bởi lời khuyên từ cha mẹ, thầy cô, anh chị... hoặc đơn giản là vì không đậu chương trình khác.
Nhìn chung, sinh viên bắt đầu với động lực khá cao. Nhưng từ năm hai trở đi, động lực có xu hướng giảm, đặc biệt khi chương trình trở nên khó hơn, bài giảng bằng tiếng Anh phức tạp hơn, giảng viên ít hỗ trợ hơn, và sinh viên bắt đầu nhận điểm thấp dù đã rất nỗ lực. Nhiều người cảm thấy mất tự tin, lạc lõng, và "đuối sức".
Dù vậy, một số sinh viên dần thích nghi, tìm được phương pháp học phù hợp, và bắt đầu cảm thấy hứng thú thật sự với nội dung học. Vào năm cuối, động lực học thường tăng trở lại – khi sinh viên cảm thấy gần "về đích", thấy rõ mục tiêu nghề nghiệp, và bắt đầu cảm nhận kết quả của quá trình tích lũy kiến thức và kỹ năng tiếng Anh.
![]() |
Biểu đồ những thay đổi về động lực học của sinh viên từ năm đầu tiên đến năm cuối. Ảnh: Nhóm nghiên cứu |
Điều đáng chú ý là không phải ai cũng học vì đam mê chuyên môn. Có sinh viên học để đạt học bổng, để "thoát nghèo", để làm cha mẹ vui lòng – và điều đó không sai. Nhưng nếu mục tiêu chỉ là "đạt được điều gì đó", mà không thấy ý nghĩa trong chính quá trình học, động lực sẽ dễ suy giảm khi gặp khó khăn.
Chiếu với khung lý thuyết của Thuyết tự quyết, có thể thấy động lực học tập của phần lớn sinh viên trong các chương trình chuyên ngành bằng tiếng Anh xuất phát từ các mục tiêu nội tại. Với họ, nhu cầu tâm lý về năng lực cũng như sự kết nối đóng vai trò khá quan trọng. Mặc dù những sinh viên này cũng có xu hướng tự chủ cao, nhưng các yếu tố gây căng thẳng trong quá trình học có thể làm suy giảm động lực trong một số thời điểm.
Các kết quả khảo sát cho thấy động lực học tập của sinh viên vẫn tương đối cao ngay cả khi có những lời phàn nàn về cách quản lý, giảng viên và quá trình triển khai chương trình học.
Một điểm mạnh của nghiên cứu là không chỉ dùng bảng hỏi đóng mà để sinh viên tự viết ra suy nghĩ, cảm xúc của mình. Điều này giúp nhóm nghiên cứu thấy rõ sự phức tạp trong trải nghiệm học – không chỉ là chuyện "thích" hay "khó", mà là cảm giác cô đơn, lạc lõng, hụt hẫng, nhưng cũng có cả những khoảnh khắc được khích lệ, được kết nối, được tự hào.
Nghiên cứu này cũng là lời nhắc nhở dành cho các nhà quản lý giáo dục rằng một chương trình "quốc tế" không thể thành công chỉ nhờ vào giáo trình nhập khẩu và tiêu chuẩn kiểm định. Điều quan trọng là phải hiểu rõ người học đang cần gì, lo lắng điều gì, và làm thế nào để môi trường học tập giúp họ cảm thấy mình có năng lực, được kết nối, và có quyền lựa chọn. Chỉ khi đó, họ mới có thể duy trì được động lực học tập trong suốt quá trình.
Nguồn:
Phuong-Bao-Tran Nguyen, Pauline Degrave, Elke Van Steendam, Lies Sercu, "Self-determination in EMI education. A study of university students’ motivation in Vietnam", International Journal of Educational Research Open, Volume 5, 2023, 100295, ISSN 2666-3740,https://doi.org/10.1016/j.ijedro.2023.100295
Hồng Ngọc

