Du học ở phương Tây, không nghi ngờ gì nữa, từng là phương án dự phòng đối với sinh viên châu Á không được nhận vào những trường đại học hàng đầu tại quốc gia của họ – và thậm chí cả với một số sinh viên đã được nhận. Nhưng rồi Covid xuất hiện, kéo theo lạm phát do sự gián đoạn của chuỗi cung ứng toàn cầu, thêm các biện pháp siết chặt nhập cư của phương Tây ra đời, khiến chi phí du học tăng vọt tại nhiều nước.
"Sinh viên Ấn Độ học thạc sĩ tại Anh hiện phải tốn thêm khoảng 30% so với ba - bốn năm trước", Rob Grimshaw, Giám đốc điều hành của StudyIn, công ty tư vấn giáo dục quốc tế ở Tokyo, cho biết. "Nếu họ du học ở Nhật Bản, học phí sẽ là ba hoặc bốn nghìn USD; ở Đức, họ có thể không phải trả bất kỳ khoản nào."
Đáng nói, việc xin thị thực ở những quốc gia này cũng dễ dàng hơn so với Mỹ, Anh, Canada và Úc - vốn đang đồng loạt siết chặt số lượng du học sinh do những lo ngại về vấn đề nhập cư.
Theo The New York Times, số du học sinh đến Mỹ đã giảm 19% trong tháng Tám so với cùng kỳ năm ngoái, mức giảm lớn nhất được ghi nhận trước và sau đại dịch, như hệ quả của việc xét thị thực bị kéo dài, người nộp đơn xin thị thực bị kiểm tra lịch sử hoạt động trên mạng xã hội và có thể bị hủy thị thực do có phát ngôn ủng hộ Palestine.
Ở Canada, việc áp hạn mức thị thực du học từ tháng 1/2024 khiến số giấy phép du học được cấp trong năm giảm 48% so với năm trước, vượt xa mục tiêu cắt giảm 35% số lượng tuyển sinh quốc tế của chính phủ nước này.
Australia đã áp đặt biện pháp hạn chế thị thực du học dựa trên tình hình thực tế vào năm ngoái bằng cách giãn việc xử lý hồ sơ khi các trường đại học đạt 80% hạn mức do chính phủ phân bổ. Tuy nhiên, số lượng nhập học vẫn tăng 9% trong giai đoạn từ tháng 7/2024 đến tháng 7/2025, và nước này đang tăng hạn mức phân bổ cho năm tới thêm 9%, ngay cả khi duy trì biện pháp hạn chế du học sinh quốc tế nêu trên.
Trong khi đó, số liệu gần đây cho thấy lượng đơn xin thị thực du học tại Vương quốc Anh trong 12 tháng qua đã bắt đầu tăng trở lại sau khi giảm do lệnh cấm du học sinh, ngoại trừ du học sinh sau đại học, bảo lãnh người thân đi cùng, được ban hành vào tháng 1/2024.
Xu hướng tăng này diễn ra bất chấp kế hoạch rút ngắn thời hạn của thị thực làm việc sau tốt nghiệp từ hai năm xuống còn 18 tháng, kể từ tháng 1/2026, một quyết định có thể gây bất lợi cho những trường đại học phụ thuộc vào du học sinh để tồn tại. Quyền làm việc sau khi tốt nghiệp hiện là một yếu tố quan trọng quyết định lựa chọn điểm đến của du học sinh, chỉ cần quy định này thay đổi, hiệu ứng sẽ xuất hiện ngay lập tức.
Những lựa chọn mới hứa hẹn
Vậy tất cả những thay đổi nêu trên ảnh hưởng đến các nguồn du học sinh như thế nào, đặc biệt là các nguồn lớn suốt nhiều năm qua ở châu Á?
Theo công ty tư vấn giáo dục quốc tế Bonard Education, Vienna, Áo, "sinh viên vẫn muốn đi du học nhưng họ đang thực sự tìm kiếm các lựa chọn khác, với sự chuyển hướng mạnh mẽ khỏi bốn điểm đến lớn [Mỹ, Anh, Canada và Úc]."
Trong khi đó, các chuyên gia về quốc tế hóa giáo dục tin rằng còn quá sớm để tuyên bố như vậy vì hiện chưa có dữ liệu cụ thể nào cho thấy sự thay đổi trong luồng du học sinh đến châu Á hoặc Trung Đông.
Tuy nhiên, châu Á đang có các động thái chính sách nhằm tăng sức hấp dẫn cho lĩnh vực du học. Ví dụ, Hồng Kông vừa công bố các trường đại học của mình có thể tuyển sinh tới 50% sinh viên bên ngoài đặc khu này.
Các quốc gia châu Á khác - bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc và Malaysia - cũng đang tích cực tìm kiếm phần lớn hơn trên thị trường du học.
Theo Tổ chức Dịch vụ Sinh viên Nhật Bản (JASSO), tính đến tháng 5/2024, Nhật Bản đã tiếp nhận gần 340.000 sinh viên quốc tế - tăng 21% so với cùng kỳ năm trước và đang trên đà đạt mục tiêu tiếp nhận 400.000 sinh viên nước ngoài vào năm 2033. Chiếm phần đông trong đó là sinh viên Trung Quốc (gần 125.000 nghìn, tương đương 37%), Việt Nam (53.000), Nepal (38.000), Hàn Quốc, Indonesia, Sri Lanka và Myanmar.
Nhật Bản hấp dẫn sinh viên châu Á bởi sự kết hợp giữa học phí thấp, môi trường an toàn và cơ hội nghiên cứu cũng như con đường sự nghiệp được mở ra nhờ chất lượng bằng cấp, đặc biệt là trong các ngành STEM và khoa học xã hội ứng dụng, cả ở nước này và trên khắp Đông Á, Đông Nam Á.
Và mặc dù vấn đề nhập cư đang gây tranh cãi ở Nhật Bản, chính phủ xứ hoa anh đào vẫn coi sinh viên quốc tế là nguồn nhân lực có kỹ năng sẽ đóng góp cho lực lượng lao động và hệ sinh thái đổi mới nơi đây trong tương lai. Do đó, mục tiêu 400.000 sinh viên quốc tế vẫn được bảo lưu.
Một yếu tố khác đem lại thành công cho lĩnh vực quốc tế hóa giáo dục đại học của Nhật Bản là hầu hết các trường đại học quốc gia và tư thục hiện đều cung cấp các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh (EMI), đặc biệt ở bậc sau đại học.
Hàn Quốc cũng mở rộng đáng kể các khóa học giảng dạy bằng tiếng Anh, giúp nước này vượt mục tiêu "Study Korea 300 K" vào giữa năm nay, tức là sớm hai năm - với đa số sinh viên nhập học đến từ Việt Nam, Uzbekistan và Trung Quốc. Nhiều trường đại học Hàn Quốc hiện đặt mục tiêu giảng dạy hơn một nửa số khóa học bằng tiếng Anh vào năm 2030. Một số trường thậm chí còn tiến xa hơn, triển khai các chương trình giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh (ETP).
![]() |
Ấn Độ là quốc gia có số lượng sinh viên đi du học lớn thứ hai thế giới với khoảng 1,3 triệu người, chỉ sau Trung Quốc. Trong ảnh: Sinh viên Ấn Độ đang khám phá cơ hội du học cả ở các điểm đến truyền thống lẫn mới nổi. Nguồn: wenr.wes.org
Tuy nhiên, Hàn Quốc vẫn gặp khó khăn trong việc thu hút sinh viên từ "gã khổng lồ nói tiếng Anh" của châu Á. Chỉ có 1.584 sinh viên Ấn Độ theo học tại các cơ sở giáo dục đại học Hàn Quốc trong năm 2024 - tính ra chưa đến 1% tổng số sinh viên quốc tế tại đây. Hàn Quốc cũng đang phải đối mặt với vấn đề ngày càng nhiều du học sinh ở lại quá thời hạn thị thực: từ 8.200 trường hợp vào năm 2017 lên 36.000 trường hợp vào năm 2023 - tương đương tỷ lệ hơn 10%; và gần 8.900 du học sinh bỏ học hoặc bị trục xuất vào năm 2024, tăng gần 30% kể từ năm 2020. Trong đó, du học sinh Việt Nam chiếm hơn bốn phần năm số ở lại quá hạn bất hợp pháp.
Ngay cả Trung Quốc cũng tham gia vào xu hướng giảng dạy bằng tiếng Anh (EMI) - các báo cáo gần đây cho thấy nước này sắp vượt châu Âu về số lượng bằng cấp từ các chương trình được giảng dạy bằng tiếng Anh. Kết quả, Trung Quốc thu hút được một lượng lớn du học sinh, đáng kể là du học sinh châu Phi, trong bối cảnh Trung Quốc thắt chặt các mối quan hệ kinh tế và chính trị với lục địa đen.
Ngược lại, Singapore gần đây đã khởi động sáng kiến giảng dạy bằng tiếng Quan Thoại nhằm thu hút thêm sinh viên Trung Quốc. Nhiều trường đại học vùng ở Hàn Quốc cũng đang cung cấp các chương trình thạc sĩ đặc biệt dành cho du học sinh Trung Quốc - nhưng rất ít trong số này được giảng dạy bằng tiếng Quan Thoại.
Cũng ngày càng nhiều sinh viên Trung Quốc lựa chọn điểm đến Malaysia, quốc gia đặt mục tiêu tuyển sinh 250.000 sinh viên nước ngoài vào cuối thập kỷ này.
Trong khi đó, Việt Nam nỗ lực định vị mình là một trung tâm giáo dục khu vực và đang xem xét cho phép sinh viên quốc tế làm việc tối đa 20 giờ mỗi tuần. Mặc dù lượng du học sinh đang tăng, nhưng đến cuối năm 2024, con số này mới đạt 22.000 - phần lớn đến từ hai nước láng giềng Lào và Campuchia.
Tương lai của bằng kép và chương trình chuyển tiếp
Các chuyên gia về giáo dục đại học nhận thấy sự đa dạng hóa hơn là sự dịch chuyển trong dòng chảy du học sinh châu Á. Các quốc gia lớn nói tiếng Anh vẫn là lựa chọn hàng đầu vì lý do chất lượng và uy tín, nhưng châu Âu – đặc biệt là Đức, đang được quan tâm nhờ các chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh và chi phí thấp hơn. Đức cũng là nước đem lại câu trả lời "Có" rõ ràng nhất cho cả ba câu hỏi của du học sinh: "Tôi có thể làm việc ở đó không?", "Chi phí có phải chăng không?" và "Khoản đầu tư của tôi có xứng đáng không?".
Đức đã tiếp nhận 380.000 sinh viên quốc tế trong năm học 2023-24, bao gồm gần 50.000 sinh viên Ấn Độ. Con số này tăng 15% so với năm ngoái và tăng hơn gấp đôi so với năm kia - cũng vẫn là nhờ vào việc chuyển sang giảng dạy các khóa học thạc sĩ bằng tiếng Anh.
Tuy nhiên, đối với sinh viên Ấn Độ, các chuyên gia không cho rằng Đức có thể sánh ngang với Mỹ, Vương quốc Anh, Canada và Úc trong tương lai gần.
Du học sinh Ấn Độ được chia thành hai nhóm: nhóm những người coi du học là con đường để di cư đến các quốc gia phát triển; và một nhóm nhỏ hơn, chủ yếu là con cái nhà giàu hoặc sống gắn bó với gia đình, ra nước ngoài chỉ để học tập rồi sau đó trở về quê hương. Nhóm đầu thích du học ở các nước nói tiếng Anh, trừ khi các nước còn lại bắt đầu có chính sách thu hút du học sinh vào lực lượng lao động của mình và tự do hóa chính sách nhập cư. Ngoài ra, ngành giáo dục đại học ở các quốc gia không nói tiếng Anh cũng được cho là không có đủ nguồn lực để tiếp nhận đông du học sinh như Mỹ và Vương quốc Anh.
Tuy nhiên, những bất cập ngày càng tăng và chi phí học tập leo thang ở các quốc gia nói tiếng Anh đang buộc cả hai nhóm du học sinh Ấn Độ phải cân nhắc các lựa chọn khác, chẳng hạn như Đức và Pháp, nơi có học phí thấp, nhiều chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh và thái độ cởi mở với du học sinh.
Tâm lý của sinh viên ở những nước châu Á khác cũng cho thấy khả năng họ sẽ thay đổi lộ trình du học. Các bậc phụ huynh châu Á thích những điểm đến được coi là "an toàn, ổn định, gần nhà hơn", và đánh giá chất lượng chương trình cùng con đường sự nghiệp một cách thực tế hơn. Du học sinh Hàn Quốc - thị trường châu Á lớn thứ ba của các trường đại học Mỹ - sau Ấn Độ và Trung Quốc - đang bắt đầu đặt câu hỏi liệu cái giá của tấm bằng nước ngoài có xứng với lợi ích mà họ nhận về hay không.
Do đó, các chuyên gia khuyến nghị các cơ sở giáo dục đại học nói tiếng Anh nên phát triển các mô hình bằng kép "gần nhà" hơn hoặc các chương trình chuyển tiếp, kết nối các cơ sở tại châu Á và châu Âu. Họ tin rằng giáo dục xuyên quốc gia thông qua các cơ sở chi nhánh hoặc chương trình cấp bằng kép có khả năng sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với các chiến lược tuyển sinh sinh viên châu Á. Họ cũng khuyến nghị các trường đại học nên đa dạng hóa tuyển sinh, chuyển từ Trung Quốc và Ấn Độ sang các thị trường mới nổi như Việt Nam, Bangladesh và Trung Á.
Nguồn:
https://www.timeshighereducation.com/depth/will-asian-international-students-turn-away-west
Bài đăng KH&PT số 1370 (số 46/2025)
Thạch Anh lược dịch
