Khởi đầu cách đây 9 năm, năm 2000, tổ chức hơn 30 nước công nghiệp OECD hiện đang tiến hành một chương trình khảo cứu quốc tế mang tên PISA đánh giá xếp hạng chất lượng giáo dục phổ thông trung học năm cuối của họ, bằng phương pháp thực nghiệm, cho điểm, trải qua 3 giai đoạn, từ năm 2000 đánh giá khả năng đọc, từ năm 2003 đánh giá khả năng toán, và từ năm 2006 đánh giá trình độ các môn học tự nhiên, được phân bổ cho hơn 60 nứơc tham gia (gồm cả những nước đối tác của OECD), thực hiện tại nước mình, với ít nhất 5000 học sinh thử nghiệm. Cho dù bản thân PISA luôn được tranh cãi phải biện, nhưng ít nhất các quốc gia OECD, sau từng giai đoạn, cũng biết được thứ hạng chất lượng giáo dục phổ thông nứơc mình trên bình diện quốc tế - cơ sở cho việc ban hành chính sách cải cách giáo dục của họ.
| Với chính sách "đổi mới", nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền; trong khi đó tư tưởng, triết lý, mục tiêu đào tạo giáo dục cũ, cùng cơ cấu thực hiện nó vẫn hầu giữ nguyên cơ bản cộng với hành lang pháp lý cho một nền kinh tế xã hội mới còn bất cập, đã đặt ngành giáo dục đào tạo trước nhiều căn bệnh và nguy cơ tụt hậu lâu dài. |
Giáo sư Hoàng Tuỵ đã đúng khi cho rằng, bàn đến giáo dục đào tạo trước hết phải đề cập đến cốt lõi của nó, tư tưởng, triết lý, mà rốt cuộc phản ảnh ở mục tiêu đào tạo giáo dục. Chắc các chuyên gia ngành giáo dục không lạ với mô phỏng phổ biến, vẽ một vòng tròn trong đó có 2 mũi tên qua lại giữa thầy và trò, nằm trong khung hình vuông biểu tượng "nhà trường", trên một nền được ghi "môi trường kinh tế xã hội". Nghiã là khởi nguồn và đích nhắm, mục tiêu của giáo dục đào tạo chính là nền tảng kinh tế xã hội. Ở ta, trứơc "đổi mới", đó là mô hình kinh tế quản lý tập trung cùng cơ chế hành chính bao cấp; đời sống kinh tế xã hội mọi mặt đều tuân theo kế hoạch do nhà nước quản lý từ trên xuống. Nền đào tạo giáo dục, với người thầy dạy gì, ở đâu, dạy như thế nào, lương bao nhiêu, với người trò học gì, trường nào, vào ngành nghề gì, ra trường làm ở đâu, trường lớp sách vở đồ dùng dạy học... đều do nhà nước quyết định; lớp được coi là đơn vị học và quản lý hành chính có cơ cấu lãnh đạo cùng các tổ chức xã hội như cơ quan nhà nước, xuyên suốt phổ thông, học nghề, đại học; tất cả nhằm phục vụ cho yêu cầu của nền kinh tế xã hội lúc đó. Chính mục tiêu khái quát đào tạo học sinh vừa hồng vừa chuyên đưa ra thời đó được diễn giải nhằm vào những nội dung trên.
Với chính sách "đổi mới", nước ta đã chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền; trong khi đó tư tưởng, triết lý, mục tiêu đào tạo giáo dục cũ, cùng cơ cấu thực hiện nó vẫn hầu giữ nguyên cơ bản cộng với hành lang pháp lý cho một nền kinh tế xã hội mới còn bất cập, đã đặt ngành giáo dục đào tạo trước nhiều căn bệnh và nguy cơ tụt hậu lâu dài. "Chỉ tiêu học sinh khá giỏi, lên lớp, tốt nghiệp", từng được xem là mục tiêu phấn đấu của người thầy, hô hào cổ vũ một thời, do không
| Văn bản chiến lược giáo dục không chỉ đủ điều kiện "cần" về tài và lực để thực thi mà còn được bảo đảm bằng điều kiện "đủ" bởi chế tài do hệ thống tư pháp, tòa án, viện kiểm sát đảm nhận. |
Nhìn dưới góc độ pháp lý, có thể hình dung được tương lai của văn bản chiến lược phát triển giáo dục, nếu không thay đổi được phương thức ban hành xưa nay. Thực trạng nền giáo dục đào tạo nước ta bây giờ cũng chính là kết qủa của những chiến lược trước đó. Khó có thể đổ lỗi hay ca ngợi ý tưởng cải cách các lần đó, bởi các cải cách đó được thực hiện dưới dạng chủ trương, theo cơ chế hành chính xin cho, dựa chủ yếu vào chỉ thị từ trên, phụ thuộc vào nỗ lực chủ quan ở dưới. Không có chế tài nào buộc người ta phải thực hiện, không cá nhân có thẩm quyền nào chịu trách nhiệm về số phận của nó. Vì vậy, điều trứơc hết là văn bản chiến lược phát triển giáo dục lần này phải được cải cách về mặt pháp lý, tuân thủ quy trình làm luật ở các nước tiên tiến. Ở họ chính sách chỉ được phép thực thi khi trở thành văn bản lập pháp, nghĩa là buộc phải qua ít nhất 2 "rào cản", chính phủ và quốc hội, tại mỗi "rào cản" lại được các ủy ban chuyên môn liên quan thẩm định, đệ trình ý kiến đề xuất. Trong văn bản lập pháp đó, bao giờ cũng có mục quan trọng là nhân sự và tài chính dành cho cơ quan hành pháp thực thi và mức tài chính đầu tư cho các hạng mục được nêu trong chính sách. Văn bản luật như vậy không chỉ đủ điều kiện „cần" về tài và lực để thực thi mà còn được bảo đảm bằng điều kiện "đủ" bởi chế tài do hệ thống tư pháp, toà án, viện kiểm sát đảm nhận. Chỉ với quy trình làm luật đó, chiến lược phát triển giáo dục lần này mới có thể hy vọng tránh được số phận các văn bản trước nó, chí ít những giải pháp chiến lược đề xuất bị hoài nghi bất khả thi, bức xúc dư luận chắn chắn sẽ được kết luận, tỷ như xây dựng 4 trường đại học Việt Nam đạt đẳng cấp quốc tế vào năm 2015, hoặc đến năm 2020 sẽ đào tạo 2 vạn tiến sĩ, mà không nêu được tổng kinh phí đầu tư là bao nhiêu? Lấy ở đâu ra ? nhân sự nào cho 4 trường đẳng cấp quốc tế? 2 vạn tiến sỹ đào tạo ra tìm việc làm chỗ nào? và cha đẻ của nó sẽ được luật pháp thừa nhận không ai khác ngoài bộ trưởng phải chịu trách nhiệm với đứa con của mình!