Từ những thí nghiệm vật lý hạt, hồi sinh lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, mở đường cho các ứng dụng trong y tế, nông nghiệp và chuẩn bị cho điện hạt nhân từ sớm, GS Nguyễn Đình Tứ đã đặt nền móng cho ngành năng lượng nguyên tử.
Mùa đông năm 1959, trong một căn phòng thuộc Phòng thí nghiệm năng lượng cao tại Dubna (Liên Xô), có một chàng trai Việt Nam có nước da ngăm đen, ánh mắt toát lên vẻ cương nghị, đang chăm chú xử lí các kết quả thu được từ buồng bọt propan lớn.
Chàng trai ấy là Nguyễn Đình Tứ. "Anh đang trong những ngày kỷ niệm hai năm tròn đến Viện Liên hiệp nghiên cứu hạt nhân Dubna", tờ báo địa phương thời bấy giờ đã dành những dòng mô tả anh - một nhà vật lý trẻ nhỏ bé ở đất nước phương xa cần mẫn làm việc, mang theo khát vọng lớn về một ngành tiên tiến còn xa lạ với quê hương mình.
Nước nhà lúc này còn trong khói lửa chiến tranh, khái niệm công nghệ hạt nhân là một tương lai dường như quá xa vời. Nhưng trong những ngày tháng tại trung tâm hạt nhân hàng đầu thế giới ấy, ông cùng các nhà khoa học Việt Nam tự tổ chức các buổi thảo luận với nhau về tin học, kỹ thuật lò phản ứng và điện nguyên tử, suy nghĩ về những nền móng đầu tiên cho ngành hạt nhân của tổ quốc.
Nhìn lại con đường đã đi qua của ngành hạt nhân Việt Nam, dấu ấn của GS Nguyễn Đình Tứ luôn hiện rõ, bắt đầu từ bước khởi sinh giản dị như thế. "Chúng tôi luôn xem GS Nguyễn Đình Tứ là người đặt nền móng và người lãnh đạo đầu tiên của Ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam" - như lời của PGS.TS Vương Hữu Tấn, nguyên Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.
Soi tìm những hạt cơ bản
Con đường học vấn của GS Nguyễn Đình Tứ không phải là một đường thẳng tiến. Trước đó, ông theo học ngành Thủy lợi ở Đại học Vũ Hán (Trung Quốc), tốt nghiệp loại ưu và đã được đề nghị chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh. Tháng 8/1957, Nhà nước quyết định chọn cử ba cán bộ trẻ gồm GS Nguyễn Đình Tứ, GS Hoàng Phương và GS Dương Trọng Bái sang cộng tác nghiên cứu tại Viện Liên hiệp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna.
Chuyển từ kỹ thuật công trình sang vật lý năng lượng cao, đồng nghĩa với việc GS Nguyễn Đình Tứ phải tự học lại từ đầu, bằng tiếng Nga, trong một thời gian gấp rút. Trong bức thư gửi người bạn của mình là GS Vũ Văn Tảo (sau này là Trợ lý Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), ông bộc bạch: "Bê tông cốt sắt, nền với móng, thủy văn với thủy lực, vứt hết cả rồi; bây giờ là trường luận, là điện động lượng tử học, là toán tử, là các hạt, là máy gia tốc v.v.".
Tại Phòng thí nghiệm Năng lượng cao Dubna, dưới sự dẫn dắt trực tiếp của Viện sĩ Veksler - nhà bác học đề xuất nguyên lý hoạt động của máy gia tốc Synchrophasotron 10 GeV tiên tiến nhất thời bấy giờ, Nguyễn Đình Tứ được phân vào Tổ Buồng bọt do M.I. Soloviev lãnh đạo. Những ngày đó, Nguyễn Đình Tứ thường trực đêm trong các kỳ bức xạ chùm hạt pi-meson. Trở về phòng lab, ông lại ngồi hàng giờ soi chiếu các thước phim thu được bằng kính lúp stereo, chọn lọc từng tương tác của hạt pi-meson với proton và hạt nhân cacbon, đo đạc và lập trình xử lý số liệu.

Đầu thập niên 1960, giới vật lý toàn cầu đang tìm kiếm các phản hạt mới nhằm kiểm chứng luận thuyết của Dirac và lý thuyết đối xứng trong vật lý hạt cơ bản. Tập thể 13 nhà khoa học tại Dubna đã phát hiện bằng thực nghiệm sự tồn tại phản hạt của hyperon sigma âm (một hạt có khối lượng gấp 2.340 lần electron, tích điện dương, chỉ tồn tại trong một phần mười tỷ giây trước khi phân rã). Phát minh phản hạt này là thành quả của đỉnh cao công nghệ với máy gia tốc hạt proton 10GeV và buồng bọt propan 24 lít tiên tiến hàng đầu thời đó, của phương pháp phân tích xử lí tự động cho phép tìm thấy bức tranh sinh phản hạt sigma âm trong số 40.000 bức ảnh chụp được trong phòng thí hiện.
"Phát hiện được phản hạt như sigma âm luôn là một sự kiện khoa học hấp dẫn và vô cùng khó khăn gấp bội, vì trong thế giới quanh ta, số phản hạt rất hiếm; tồn tại rất ít so với số hạt", PGS.TS Trần Thanh Minh (nguyên Viện trưởng Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân) từng nhận xét. Việc tìm ra hạt cơ bản này không chỉ có giá trị thực nghiệm, mà còn góp phần khẳng định luận thuyết về phản hạt được nhà lý thuyết Dirac đề xuất năm 1928, đồng thời minh chứng thêm cho sự tồn tại của phản vật chất. Với ông, phát minh về phản hạt sigma âm là một giai điệu đẹp trong bản giao hưởng "tương tác của các hạt cơ bản và hạt nhân ở năng lượng cao" của Giáo sư Nguyễn Đình Tứ và tập thể khoa học mà ông đã gắn bó mật thiết.
Ở tuổi 30, Nguyễn Đình Tứ là người được cử thay mặt nhóm nghiên cứu bước lên diễn đàn Hội nghị khoa học quốc tế ở Tây Âu để công bố phát minh này trước giới khoa học thế giới. Năm 1961, ông nhận giải thưởng cao quý của Hội đồng khoa học Viện Dubna. Đến năm 1968, Chính phủ Liên Xô chính thức cấp Bằng phát minh cho công trình, tấm bằng ghi tên 13 tác giả quốc tế, trong đó trang trọng khắc dòng chữ: "Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nguyễn Đình Tứ".
Trong nhiệm kì thứ hai (1966-1970) tại Dubna, ông phụ trách một đơn vị nghiên cứu khoa học. Ông vừa tổ chức nghiên cứu trên chùm hạt 10 GeV của máy gia tốc ở Dubna, vừa chuẩn bị những thí nghiệm lớn trên máy gia tốc số một thế giới sắp khánh thành ở thành phố Serpukhop.
Những kiến thức của nền khoa học hiện đại giúp ông sớm lên kế hoạch chuẩn bị cho ngành hạt nhân cho những ngày thống nhất đất nước, dù còn cả một thập kỷ nữa mới tới ngày đó. Từ cuối những năm 1960, ông đã trao đổi với đồng nghiệp rằng cần tìm hiểu kỹ về lò phản ứng TRIGA Mark II ở Đà Lạt. Đất nước còn chia cắt, lò phản ứng nằm ở miền Nam, do Mỹ xây dựng, gần như ngoài tầm với của giới khoa học miền Bắc. Nhưng với tầm nhìn từ rất sớm, khi ấy ông đã nhận ra năng lượng nguyên tử là một phần năng lực quốc gia mà Việt Nam sớm muộn phải làm chủ.
Những năm tháng miệt mài bên bờ sông Volga đã giúp GS Nguyễn Đình Tứ tích lũy vốn hiểu biết sâu về khoa học cơ bản, tư duy vận hành phòng thí nghiệm lớn, phương pháp xử lý dữ liệu và cách kết nối vật lý với năng lực công nghệ quốc gia.
Năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng, miền Nam được tiếp quản, và cơ hội tiếp quản lò hạt nhân Đà Lạt đã đến.
Hồi sinh lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt
Những ngày cuối mùa đông năm 1975, GS Nguyễn Đình Tứ, bấy giờ là Phó hiệu trưởng kiêm Chủ nhiệm khoa Lí, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội cùng các chuyên gia hạt nhân như PGS Nguyễn Hữu Xý, PGS Trần Thanh Minh đã vào thăm Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt đang do quân đội quản lý.
Lò phản ứng TRIGA Mark II công suất 250 kW, từng vận hành từ năm 1963 đến 1968. Đến 1975, vào những ngày cuối cuộc chiến tranh tại Việt Nam, Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger gửi điện mật tới Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn, yêu cầu bằng mọi cách phải rút nhiên liệu khỏi lò phản ứng Đà Lạt. Washington coi đây là công nghệ tuyệt mật, không muốn rơi vào tay một chính quyền mới có quan hệ với Liên Xô. Do đó, những thanh nhiên liệu cuối cùng đã bị tháo khỏi lò phản ứng trước khi người Mỹ rút đi.
Là một trong những cán bộ khoa học đầu tiên được phép vào khảo sát lò phản ứng hạt nhân, PGS. TS Nguyễn Nguyên Phong còn nhớ những ấn tượng ban đầu: "Trong nước tinh khiết (~ 2 MΩ.cm) của lò có nhiều đầu mẩu thuốc lá và dây thun (!), nhà lò và khối bảo vệ có nhiều vết nứt theo một hướng, mái nhà lò dột". Trong khi đó, chỉ số phóng xạ trong lò rất cao, có chỗ gấp 1.000 lần so với mức cho phép làm việc.
Giữa những ngổn ngang đó, "tôi cảm thấy anh Tứ đang sẵn sàng chuyển vào Đà Lạt để tổ chức việc hồi phục lại Trung tâm nghiên cứu hạt nhân ở đây", PGS Trần Thanh Minh về sau nhớ lại.

Ngay đầu năm mới, ngày 3/1/1976, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi viết thư tay mời Giáo sư Nguyễn Đình Tứ đến ăn cơm để trực tiếp báo cáo về các vấn đề quanh việc thành lập một viện nghiên cứu nguyên tử Đà Lạt. Ngày 26/4/1976, Viện Nghiên cứu hạt nhân (Đà Lạt) chính thức được thành lập, trực thuộc Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước. Trái tim của ngành hạt nhân đất nước đã được dựng lên!
Dù phải ở lại Hà Nội để gánh vác các trọng trách như Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, GS Nguyễn Đình Tứ vẫn đóng vai trò là linh hồn quy tụ lực lượng cho Đà Lạt.
GS.TS Phan Hữu Dật (Nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Tổng hợp Hà Nội) từng phác họa một hình ảnh rất đỗi thân thương về người đồng nghiệp: "Một tay ôm cặp tài liệu, một tay xách toòng teng cặp lồng, trông anh bao giờ cũng vẫn trong tư thế hòa nhã". Sự hoà nhã đó của GS Nguyễn Đình Tứ dường như là đặc điểm đầu tiên mà mọi người vẫn hình dung khi nghĩ đến ông.
Sự hòa nhã, khả năng lắng nghe, thuyết phục mọi người cùng uy tín của mình đã giúp ông hội tụ được đông đảo cán bộ khoa học hạt nhân chuẩn bị cho giai đoạn mới. "Vừa là trách nhiệm vừa như sự cuốn hút nghề nghiệp, nhiều anh em trong gia đình hạt nhân ở nước ngoài về gần như có lời hứa ngầm: lấy Đà Lạt làm điểm hẹn", PGS Trần Thanh Minh viết về một thời nhiệt thành ấy. "Từ 1976, các anh Nguyễn Mộng Sinh, Lê Văn Sơ đã có mặt đầu tiên ở Đà Lạt. Rồi lần lượt các anh Phạm Quốc Trinh, Nguyễn Tác Anh, Phạm Duy Hiển, Ngô Quang Huy, Phạm Khắc Chi, Vương Hữu Tấn, Nguyễn Nhị Điền... đã quy tụ về Viện Nghiên cứu hạt nhận Đà Lạt mới thành lập. Riêng anh Tứ không thể đi được [...] anh vẫn bên cạnh anh chị em đồng nghiệp, chỉ đạo công việc ở Đà Lạt từ xa và có vai trò quan trọng trong mọi bước khôi phục lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt."
GS Nguyễn Đình Tứ tin tưởng giao cho GS Phạm Duy Hiển trọng trách "Tổng công trình sư" của công trình khôi phục, mở rộng lò phản ứng. Vấn đề kỹ thuật có thể yên tâm, nút thắt tiếp theo ông cần gỡ đó là bài toán ngoại giao phức tạp để được hồi sinh lò. Lúc bấy giờ, Việt Nam chưa ký Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT). Để nhận được hỗ trợ từ Liên Xô, Việt Nam buộc phải ký Hiệp định Bảo đảm với IAEA nhằm chứng minh không dùng lò phản ứng cho mục đích quân sự.
Dự thảo do IAEA đưa ra có 21 điều thì 19 điều Việt Nam không đồng ý. Vì vậy Chính phủ thành lập bốn tiểu ban chuyên trách (Kỹ thuật, Pháp lý, Đối ngoại, An ninh) để đàm phán, giao cho GS. Nguyễn Đình Tứ và ông Võ Đông Giang phụ trách. Công tác nghiên cứu của đoàn kéo dài 3 tháng, hoàn thành một khối lượng công việc chuyên môn được GS. Nguyễn Đình Tứ đánh giá là "xứng đáng trao bằng Phó tiến sĩ về kỹ thuật và pháp quy hạt nhân!". Trưởng đoàn đàm phán tại Vienna (Áo) là Đại sứ Việt Nam tại Pháp Võ Văn Sung, một nhà ngoại giao lão luyện.
Một trong những vấn đề gay cấn nhất của cuộc đàm phán là IAEA muốn kiểm soát cả thông tin thu được từ lò Đà Lạt; phía Việt Nam phản đối, vì điều đó có thể mở rộng thành sự kiểm soát đối với toàn bộ Việt Nam. Ròng rã một tháng, những tưởng xôi hỏng bỏng không, nhưng rồi trước giờ phái đoàn Việt Nam lên đường về nước đúng vài tiếng đồng hồ, Hiệp định Bảo đảm giữa Việt Nam và IAEA đã được ký kết thành công, tạo ra hành lang pháp lý duy nhất và quyết định để lò phản ứng Đà Lạt được phép tiếp tục khôi phục và mở rộng.
Từ đây, ngày 15/3/1982, Công trình Khôi phục và Mở rộng lò phản ứng được khởi công. Ngày 1/11/1983, lò đạt trạng thái tới hạn lần đầu với tên mới IVV-9. Ngày 20/3/1984, lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt "vỏ Mỹ, ruột Nga" chính thức vận hành ở công suất 500 kW, gấp đôi lò TRIGA cũ.
Biến "hạt nhân" thành "hạt gạo"
Khi trò chuyện với người bạn của mình - GS Lê Doãn Diên - về vai trò của các ngành khoa học cơ bản nói chung và Vật lí học nói riêng đối với sự phát triển của ngành Nông, Lâm, Ngư nghiệp của đất nước, GS Nguyễn Đình Tứ từng tâm sự: "Riêng ngành vật lí hạt nhân của bọn mình thì phải quyết tâm biến các hạt cơ bản thành hạt gạo, hạt ngô phục vụ một cách thiết thực cho bà con nông dân."
Lời tâm sự ấy là tâm nguyện chung của các nhà khoa học hạt nhân Việt Nam: làm những điều thiết thực nhất cho người dân. Viện Nghiên cứu hạt nhân (Đà Lạt) - hay Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia, và về sau là Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam - là cánh cửa để hiện thực hoá con đường này.
Khi nước ta bước vào hợp tác ổn định với IAEA và xây dựng 3 cơ sở khoa học kỹ thuật hạt nhân ở Hà Nội, Đà Lạt và Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo sư Nguyễn Đình Tứ đã ưu tiên dành nhiều dự án viện trợ kỹ thuật đợt đầu cho Đà Lạt. Mục tiêu nhằm hình thành một viện nghiên cứu hạt nhân tương đối đồng bộ, sớm đưa các ứng dụng đồng vị phóng xạ vào thực tiễn phục vụ sản xuất và đời sống.
"Bài toán của nhà nghèo buổi ban đầu thật không dễ", TS Võ Văn Thuận (nguyên Viện trưởng Viện Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) nhớ lại. Song vài năm sau, nhiều phòng thí nghiệm về y học hạt nhân, sinh học phóng xạ, thủy văn đồng vị nhanh chóng được đưa vào hoạt động. Một đội ngũ chuyên gia nhiệt tình đã giúp Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia sớm phát triển các ứng dụng thiết thực trong y tế, nông nghiệp.

Theo đó, các nhà khoa học đã tối ưu hóa năng suất lúa bằng kỹ thuật đồng vị đánh dấu (N-15) và (P-32). Tại vùng đất xám bạc màu Củ Chi, kỹ thuật tiên tiến này đã giúp các nhà khoa học phân tích và chọn lọc được 3 giống lúa nước có bộ rễ phát triển mạnh cùng hiệu suất hấp thụ phân bón cao nhất để khuyến cáo gieo trồng. Song song đó, các thử nghiệm đồng ruộng tại đồng bằng sông Cửu Long đã giúp đưa ra những con số định lượng chính xác cho nông dân: lượng phân đạm bón cho lúa đợt đầu chỉ nên giới hạn ở mức 20kg N/ha và tổng lượng bón cả mùa không cần vượt quá 100–120kg N/ha. Định lượng này giúp cây lúa đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, tăng năng suất mà không gây lãng phí phân bón vô cơ.
Không dừng lại ở đó, các chuyên gia đã kết hợp công nghệ bức xạ với công nghệ sinh học để sản xuất phân vi sinh cho lúa và cây trồng. Họ chủ trương ứng dụng nguồn chiếu xạ Co-60 để khử trùng chất mang than bùn dùng trong sản xuất phân bón vi sinh cố định đạm. Phương pháp này giúp vi sinh vật sống sót kéo dài đến 6 tháng, đạt chất lượng tốt hơn hẳn và gấp đôi thời gian so với các phương pháp nhiệt truyền thống. Bên cạnh các nghiên cứu về lúa, công nghệ bức xạ cũng được ứng dụng vào việc kéo dài tuổi thọ nông sản và dược liệu.
Song song với mảng nông nghiệp, từ sau ngày giải phóng miền Nam, với cương vị Chủ tịch Uỷ ban Năng lượng nguyên tử Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Đình Tứ đã đặt vấn đề với Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế giúp đỡ để đưa những tiến bộ kĩ thuật hạt nhân vào mục đích hòa bình nhằm phát triển nền kinh tế quốc dân, trong đó có Y học hạt nhân. "Một loạt các cơ sở Y học hạt nhân được hình thành trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam với trang thiết bị đồng bộ. Y học hạt nhân trong nước có bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng", GS Nguyễn Xuân Phách từng nhận xét.
Y học hạt nhân Việt Nam đã chế tạo được thuốc chống phóng xạ và đã áp dụng có hiệu quả cho một số người bị nhiễm xạ sau sự cố Chernobyl, áp dụng được các kĩ thuật mới về xạ hình trên máy gamma camera, SPECT, chấn đoán tim mạch, ung thư, chẩn đoán và điều trị trên diện rộng các bệnh nhân bị bệnh tuyến giáp bằng dược chất phóng xạ v.v.
Một trong những điều mà GS Nguyễn Đình Tứ luôn quan tâm, y học phóng xạ - nghiên cứu các thuốc thải xạ, các thuốc bảo vệ phóng xạ, các biện pháp điều trị các tổn thương phóng xạ, các tổn thương hỗn hợp (phóng xạ và các tổn thương khác).
Những thuốc mà Học viện Quân y nghiên cứu thành công như thuốc B76, Alginat natri, thuốc hoạt hóa CM2, cao quy bản đều có công sức hợp tác của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và dấu ấn của Giáo sư Nguyễn Đình Tứ. "Điều mà tôi nhớ mãi về anh Tứ là khi nghiên cứu xong, anh Tứ luôn bàn với tôi cần xây dựng phát triển cơ sở sản xuất thuốc, sản phẩm của kết quả nghiên cứu để có thuốc bảo vệ sức khỏe cho cán bộ công nhân viên, những người làm việc tiếp xúc với các tia xạ, các bức xạ ion hóa", GS. Lê Thế Trung (Nguyên Giám đốc Học viện Quân y) viết.

Bên cạnh ứng dụng kỹ thuật hạt nhân, mảng công việc lớn được Giáo sư đặc biệt coi trọng là các bước chuẩn bị nhân lực, tổ chức nghiên cứu và lập kế hoạch đưa điện nguyên tử vào Việt Nam. Theo TS Võ Văn Thuận, trong tình hình hậu Chernobyl khó khăn gay gắt, "dù trong lòng có nhiều suy tư trăn trở nhưng anh Tứ không nao núng, vẫn kiên trì dẫn dắt thực hiện những công việc vốn không phải là dễ được đồng thuận".
Thời điểm đó, Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia triển khai hai đề tài cấp nhà nước. Đề tài 50A nhằm phát triển mở rộng nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật hạt nhân trên cơ sở một số nội dung đã bắt đầu ở Đà Lạt. GS Nguyễn Đình Tứ trực tiếp làm chủ nhiệm đề tài 50B, hướng vào các vấn đề công nghệ thăm dò, khai thác mỏ uran, nghiên cứu chế biến nhiên liệu và vật liệu chuẩn bị cho ngành điện hạt nhân.
Đồng thời với việc hình thành các cơ sở nghiên cứu hóa học vật liệu ở phía Bắc (tiền thân của Viện Công nghệ xạ hiếm), Giáo sư cũng trực tiếp chỉ đạo xây dựng một trung tâm máy tính nhỏ tại Hà Nội với giàn máy PC thế hệ đầu tiên. Dù lúc đó công cụ này rất hiếm hoi, ông đã gắn kết nó với dự án viện trợ kỹ thuật của IAEA về quy hoạch điện hạt nhân. Các đồng nghiệp tại Phòng nghiên cứu Điện nguyên tử thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Quốc gia đã sử dụng công cụ này để từng bước học cách tính toán vật lý lò phản ứng, đồng thời tập huấn tiếp thu phương pháp quy hoạch điện hạt nhân dựa trên phiên bản chương trình WASP-III do IAEA cung cấp.
Năm 1990 tại Hội nghị KH&CN ngành NLNT mà sau này lấy tên là Hội nghị KH&CN hạt nhân toàn quốc, GS Nguyễn Đình Tứ đã có trình bày báo cáo rất quan trọng về định hướng phát triển điện hạt nhân của Việt Nam sau chuyến công tác tại Hàn Quốc cùng với Tổng bí thư Đỗ Mười.
Công việc được đẩy mạnh vào những năm 1992 – 1995 nhờ nguồn kinh phí Chương trình Khoa học công nghệ cấp nhà nước về kỹ thuật hạt nhân KC-09 do Giáo sư Nguyễn Đình Tứ đề xuất và lãnh đạo. Theo kết quả phân tích của đề tài KC-09-17 (GS Cao Chi làm chủ nhiệm), từ năm 2015 trở đi, nguồn thuỷ điện và dầu khí ở nước ta sẽ đến giới hạn khai thác bão hoà. Bù lại, Việt Nam có thể bổ sung thêm điện hạt nhân hoặc phải tăng cường nhân bội nguồn nhiệt điện than, dự kiến thời gian đưa điện hạt nhân vào nước ta triển khai trong giai đoạn 2010 – 2015.
"Phát triển điện hạt nhân là mục tiêu quan trọng đã được GS Nguyễn Đình Tứ trăn trở từ khi còn làm cộng tác viên tại Viện Liên hợp nghiên cứu hạt nhân Dubna cuối những năm 1950 và thập niên 1960", PGS.TS Vương Hữu Tấn chia sẻ với Tia Sáng. "Hiện nay chúng ta đang triển khai dự án điện hạt nhân Ninh Thuận với sự tham gia của các Bộ, ngành khác nhau, nhưng công lao đầu tiên phải kể đến là những đóng góp ban đầu rất quan trọng của GS Nguyễn Đình Tứ. Lịch sử phát triển ngành điện hạt nhân sau này của Việt Nam sẽ ghi danh GS Nguyễn Đình Tứ là người tiên phong thúc đẩy phát triển ngành điện hạt nhân của Việt Nam."
Xây dựng nguồn nhân lực
Không chờ đến khi ngành năng lượng nguyên tử đã đi vào quỹ đạo, GS Nguyễn Đình Tứ mới nghĩ đến bài toán xây dựng đội ngũ.
Khoảng năm 1980, trong lúc đang bắt tay vào khôi phục lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt, giáo sư đã nhìn thấy tương lai của Năng lượng nguyên tử ở Việt Nam và lại bắt đầu chuẩn bị xây dựng đội ngũ cho hướng đi này. PGS.TS Ngô Quang Huy từng phân tích rằng ngành Hạt nhân Việt Nam từ đó hình thành ba phương hướng rõ rệt, là kĩ thuật hạt nhân phi năng lượng, công nghệ năng lượng hạt nhân và vật liệu hạt nhân.
GS Nguyễn Đình Tứ chủ trương thiết lập mô hình hợp tác chặt chẽ giữa Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt và Trường Đại học Đà Lạt. Là thủ trưởng cao nhất của cả hai ngành thời điểm đó, ông đã tạo điều kiện phối hợp tối đa để đào tạo nhân lực một cách bài bản. Nhờ mô hình liên kết Viện - Trường hiệu quả này, trong vòng gần 10 năm, đã có khoảng 50 cán bộ - chiếm gần một phần ba tổng số cán bộ nghiên cứu của Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt - được đào tạo một cách hệ thống, thực hành chuyên sâu về các chuyên ngành mũi nhọn như vật lý hạt nhân, hóa phóng xạ, sinh học phóng xạ và tin học.
Bên cạnh đó, Giáo sư Nguyễn Đình Tứ đã biến các Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước do mình làm Chủ nhiệm thành môi trường cọ xát thực tế nhằm nâng tầm đội ngũ. Thông qua Chương trình 50B và Chương trình KC-09, ông đã tập hợp thành công một lực lượng đông đảo các nhà khoa học và công nghệ thuộc nhiều lĩnh vực liên ngành từ địa chất, địa vật lý, hóa học, luyện kim cho đến y học. Riêng Chương trình KC-09 đã quy tụ khoảng 200 cán bộ khoa học nòng cốt. Nguồn kinh phí và các đề tài nghiên cứu từ chương trình này đã tạo điều kiện cho các cán bộ nâng cao trình độ, tiếp cận tri thức quốc tế, đồng thời bảo vệ thành công nhiều luận án tiến sĩ và thạc sĩ.
Ông cũng chủ động kết nối, mở đường và phát triển mối quan hệ tốt đẹp với IAEA cùng nhiều quốc gia để tranh thủ nguồn dự án viện trợ kỹ thuật, tăng cường cơ sở vật chất. Tận dụng tối đa nguồn lực quốc tế này, ông chủ trương ưu tiên dành các chuyến đi công tác, khóa tập huấn ngắn hạn và thực tập dài hạn ở nước ngoài cho những cán bộ trực tiếp làm chuyên môn.
Nhiều năm sau, khi Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam bắt đầu nghiên cứu khả năng đưa điện nguyên tử vào Việt Nam, bầu không khí hứng khởi bắt đầu lan tỏa trong đội ngũ cán bộ ngành Hạt nhân sau những năm miệt mài nghiên cứu với bao thăng trầm. "Đóng vai trò chủ chốt trong công cuộc xây dựng mới mẻ này là các anh chị thuộc thế hệ sau chúng tôi, và tất nhiên là sau thế hệ của anh Nguyễn Đình Tứ. Các thế hệ lần lượt đóng góp sức mình vào việc xây dựng ngành Hạt nhân non trẻ của đất nước. Và có lẽ mỗi một người trong chúng tôi, ai cũng nhận thấy rằng, công lao đầu tiên thuộc về anh, Giáo sư Nguyễn Đình Tứ, người lãnh đạo đầy năng lực và nhiệt huyết trong số những người tiên phong xây dựng ngành Hạt nhân nước ta.", PGS.TS Ngô Quang Huy viết.
Ngày nay, trong bối cảnh điện hạt nhân được khởi động trở lại, ngành năng lượng nguyên tử Việt Nam đang bước vào một giai đoạn quan trọng.
Những nền móng mà Nguyễn Đình Tứ gây dựng, ngày nay vẫn đang nở rộ, đóng vai trò quan trọng vào tiềm lực KH&CN của nước nhà. Còn giáo sư, có lẽ đã trở về đâu đó ngoài xa kia - nơi có sao chổi Hale-Bopp mà ông từng ước ao được tự tay chụp ảnh trong những ngày cuối đời.
--
Tài liệu tham khảo:
Nguyễn Đình Tứ: Khoa học và Sự nghiệp (2016), Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam - Viện Năng lượng nguyên tử, NXB Giáo dục.
Nguyễn Đình Tứ: Tài năng và phẩm cách (2002), Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, NXB Giáo dục.