Khi máy móc ngày càng có khả năng đảm nhiệm công việc của con người, một câu hỏi tưởng chừng xa xỉ lại được đặt ra: Liệu con người có thể sống nhàn rỗi hơn? Dự đoán gần đây của Elon Musk về viễn cảnh con người được hưởng thu nhập phổ quát, có thể lựa chọn làm việc hoặc không, đã gợi lại tư duy về sự nhàn rỗi của các triết gia cổ đại Aristotle, Diogenes cũng như tinh thần phản biện đạo đức lao động của triết gia Bertrand Russell, nhà xã hội học Zygmunt Bauman, nhà nhân học David Graeber.
Những người tự trọng đều không muốn ngửa tay xin tiền, càng không muốn nhận ban phát từ người khác khi họ còn có thể lao động. Dẫu cho bao nhiêu năm lịch sử đã trôi qua và công cụ cũng như phương thức lao động đã thay đổi triệt để như thế nào, từ chiếc cày bằng đồng cho tới cỗ máy lập trình tự động bằng AI, hầu như mọi xã hội, hiện đại hay xa xưa, đều đã không ngừng đong đếm giá trị con người qua thước đo năng suất. Sự bận rộn được ngợi ca và trọng vọng, trong khi nhàn rỗi bị coi là lười nhác, buông thả bản thân.
Trong cuốn Work, Consumerism and the New Poor (Lao động, chủ nghĩa tiêu dùng và người nghèo mới, 1998), nhà xã hội học người Anh-Ba Lan Zygmunt Bauman đã phân tích rằng đạo đức lao động là một mệnh lệnh đi kèm hai tiền đề công khai và hai giả định ngầm.
Tiền đề công khai thứ nhất là để sinh tồn và mưu cầu hạnh phúc, người ta phải làm một điều gì đó được người khác xem là có giá trị và xứng đáng được trả tiền. Tiền đề công khai thứ hai là hài lòng với những gì mình đang có là sai lầm, thậm chí là suy đồi về mặt đạo đức. Hai tiền đề trên bổ trợ cho nhau và tạo nên một quan niệm sâu xa hơn: lao động không còn đơn thuần là phương tiện để kiếm sống mà trở thành một giá trị tự thân, một hoạt động cao quý và nâng tầm con người.
Còn giả định ngầm thứ nhất, theo Bauman, là "phần lớn mọi người đều có sức lao động để bán, và họ thực sự có thể kiếm sống bằng cách bán năng lực đó để đổi lấy những gì họ xứng đáng được nhận". Và giả định ngầm thứ hai là: "Chỉ thứ lao động có giá trị được người khác thừa nhận - tức lao động được trả lương hoặc tiền công, có thể đem bán và có khả năng được mua - mới có giá trị đạo đức theo quan niệm của đạo đức lao động".
Tuy nhiên, thứ luân lý đạo đức lao động này thực ra có lịch sử khá mới mẻ.
Nhàn hạ từng là biểu tượng của một cuộc sống lý tưởng
Ở Hy Lạp cổ đại, nhàn hạ mới là biểu tượng của một cuộc sống lý tưởng. Người Hy Lạp gọi tình trạng nhàn hạ này là scholē. Đây chính là từ nguyên của chữ "school" (trường học), nhưng theo nghĩa nguyên bản, nó chỉ khoảng thời gian được dành riêng cho việc suy ngẫm và trò chuyện, chứ không phải để lao động. Đối với các triết gia Hy Lạp, sự nhàn hạ là điều kiện tiên quyết để tư tưởng có thể nảy mầm.
Với giới tinh hoa Hy Lạp, lối sống nhàn nhã là dịp để tề tựu đàm đạo và sang phái Tiêu dao của Aristotle, nó tiếp tục được nâng tầm thành nghiền ngẫm triết học, từ đó hình thành nên khái niệm "tinh thần học thuật" (scholar). Xa hơn nữa, với triết gia tiền khắc kỷ và chống đối trật tự Diogenes, khao khát nhàn hạ chính là một thiên tính. Trong mắt người dân Athens, Diogenes trông như một kẻ lười biếng, thậm chí điên khùng. Nhưng sự nhàn rỗi của ông là có chủ đích. Bằng cách làm ít nhất có thể, ông thử nghiệm xem một con người thực sự cần bao nhiêu để tồn tại.
Tranh Diogenes (1882) của họa sĩ người Anh John William Waterhouse. Nguồn: Wikipedia
Bằng cách sống trong chiếc thùng gỗ cùng bầy chó ngoài đường phố, ông hướng đến rũ bỏ mọi của cải, tham vọng hay thói đạo đức giả, để bóc tách những gì thực sự cần thiết ra khỏi những gì chỉ là thói quen hay trách nhiệm xã hội áp đặt. Quan điểm đó có thể nói là đã tạo ra tiếng vang hơn hai nghìn năm, và đang được tìm lại nhiều hơn trong thời đại AI. Khi được hỏi đến từ đâu, Diogenes đáp rằng mình là "công dân của thế giới". Trong xã hội Hy Lạp gắn chặt giá trị đạo đức với biên giới thành bang, câu trả lời này mang tính khiêu khích tột độ. Ông ngụ ý rằng ý thức thuộc về là một phẩm chất nhân bản phổ quát thay vì chỉ là đặc tính công dân cục bộ, và đức hạnh không phải là đặc quyền của những kẻ quyền quý, có địa vị xã hội, hay làm việc chăm chỉ.
Diogenes chưa bao giờ khuyên bảo người khác phải trốn chạy hay từ bỏ xã hội. Thay vào đó, ông thúc giục họ soi xét kỹ lưỡng hơn những sợi dây đang trói buộc mình. Với ông, một cuộc sống tốt đẹp đồng nghĩa với độc lập khỏi những thúc ép và sự công nhận từ bên ngoài, chứ không phải là lánh đời tuyệt đối. Bằng cách tước bỏ những gì ông coi là thừa thãi, ông tìm ra thứ không ai có thể cướp đi khỏi ông. Xét đến cùng, đời sống nhàn rỗi của ông là tuyên ngôn về thế cân bằng giữa nhu cầu thiết yếu và sự thừa mứa: biết tiết chế cũng là một kỷ luật chủ động chẳng kém gì chính lao động miệt mài.
'Lao động là tôn giáo': Đạo đức mới của thời cách mạng công nghiệp
Thế nhưng, thế cân bằng ấy đã bị thách thức khi trật tự công nghiệp thế kỷ 18 bắt đầu biến lao động thành thước đo đạo đức tối thượng. Quan niệm lao động là đạo đức đã có từ sớm hơn, như có thể lần về lời răn của vị thánh Công giáo Benedict (480-547) rằng "sự nhàn rỗi là kẻ thù của linh hồn" (Regula Sancti Benedicti, Quy tắc Tu viện của Thánh Benedict, Chương 48: Về lao động chân tay hằng ngày).
Nhưng quan niệm đó chỉ thực sự bùng nổ thành một thứ tôn giáo thế tục dưới áp lực của máy móc hơi nước thời kỳ cách mạng công nghiệp. Các nhà tư tưởng thời kỳ này, tiêu biểu như triết gia người Scotland Thomas Carlyle (1795-1881), ra sức thần thánh hóa năng suất khi tuyên xưng "lao động là tôn giáo". "Mọi công việc, ngay cả kéo sợi bông, đều cao quý; chỉ có lao động mới là cao quý... Cuộc đời an nhàn không dành cho bất kỳ con người nào, cũng chẳng dành cho bất kỳ vị thần nào", Carlyle viết.
Tranh Xưởng cán sắt (Những người khổng lồ một mắt thời hiện đại), vẽ năm 1875-1876, của họa sĩ người Đức Adolph von Menzel. Nguồn: Wikicommons
Nhà tư tưởng quan trọng nhất của chủ nghĩa xã hội Karl Marx nhận xét tinh vi hơn: "Giả sử chúng ta sản xuất với tư cách là con người: mỗi người trong chúng ta, thông qua sự sản xuất của mình, sẽ khẳng định bản thân và tha nhân gấp bội: Trong sản xuất, tôi đã vật hóa cá tính và bản sắc riêng của mình... Các sản phẩm của chúng ta khi ấy sẽ như những tấm gương, soi chiếu lại bản chất của chính chúng ta". (Auszüge aus James Mills Buch "Élémens d’économie politique" - Ghi chú về cuốn Các yếu tố của kinh tế chính trị học" của James Mill, 1844). Những nhận định đó của Marx sau này sẽ được đúc kết lại bởi những người thực hành sau ông trong mệnh đề ngắn gọn và rất nổi tiếng: "Lao động là vinh quang".
Sự xuất hiện của đồng hồ bấm giờ và động cơ hơi nước trong các xưởng dệt Manchester không chỉ cơ giới hóa sản xuất, mà còn thiết lập một trật tự luân lý mới: thời gian bị đồng nhất với tiền bạc, còn sự thong dong bị quy kết thành mầm mống tha hóa và tội lỗi. Cuộc chuyển dịch gắn liền với nền đạo đức Tin lành, theo quan điểm của Max Weber từng chỉ rõ, nơi chuyên cần đến kiệt sức được thần thánh hóa thành cứu rỗi, lao động trở thành bổn phận thiêng liêng và là minh chứng cao quý cho phẩm giá con người. Đạo đức hóa năng suất lao động - coi làm việc không ngừng nghỉ là "vinh quang" và nhàn rỗi là sự suy đồi của giai cấp cần lao - chính là bước đệm tư tưởng then chốt dọn đường cho guồng máy kỷ luật khắt khe áp đặt lên thân thể và tâm trí con người.
Bước sang thế kỷ 20, dù đối nghịch về ý thức hệ, chủ nghĩa Taylor trong xã hội tư bản và phong trào Stakhanov trong nền kinh tế kế hoạch hóa Liên Xô lại gặp nhau ở cùng một đích đến: biến con người thành công cụ tối đa hóa sản lượng. Nếu chủ nghĩa Taylor dùng đồng hồ bấm giờ triệt tiêu từng giây ngơi nghỉ để phục vụ guồng máy thặng dư, thì phong trào Stakhanov thần thánh hóa việc vắt kiệt sức lực, biến áp lực đạt được định mức trở thành nghĩa vụ chính trị và danh dự vô sản. Một bên coi nhàn rỗi là lãng phí kinh tế, một bên quy kết nó là sự suy đồi và phản bội tập thể; nhưng cả hai đều biến lao động miệt mài thành chuẩn mực luân lý.
Sự nhàn rỗi sẽ cứu thế giới?
Để phản bác những lý lẽ đó, triết gia và nhà toán học Anh Bertrand Russell đã viết tiểu luận có lẽ là nổi tiếng nhất để bảo vệ sự nhàn rỗi: In Praise of Idleness (Ca tụng sự nhàn rỗi, 1932). Trong tác phẩm này, ông phân tích một nghịch lý quan trọng: khi máy móc giúp tăng năng suất, xã hội có thể sản xuất đủ hàng hóa với ít giờ lao động hơn. Về lý thuyết, mọi người đều có thể làm việc ít đi mà vẫn duy trì mức sống tốt. Nhưng trong xã hội phương Tây đương thời, cách phân phối thành quả kinh tế lại ngăn cản điều đó, dẫn đến tình trạng làm việc quá sức và thất nghiệp cùng lúc, và thành quả tăng năng suất vẫn chủ yếu rơi vào tay một nhóm thiểu số sở hữu tài sản và tư liệu sản xuất.
Russell kêu gọi: "Những phương thức sản xuất hiện đại đã mang lại cho chúng ta khả năng đạt được sự an nhàn và bảo đảm cho tất cả mọi người; thế nhưng, thay vào đó, chúng ta lại chọn để một số người phải làm việc quá sức, còn những người khác phải chịu cảnh đói khát. Cho đến nay, chúng ta vẫn làm việc hăng hái hệt như thời chưa có máy móc; về điểm này, chúng ta đã thật dại dột, song chẳng có lý do gì để cứ tiếp tục ngu ngốc như thế mãi".
Bauman là người thừa kế xứng đáng của Russell, khi ông viết trong cuốn Work, Consumerism and the New Poor: "Xét mọi khía cạnh thực tế, phong trào cổ xúy đạo đức lao động thực chất là cuộc chiến nhằm giành quyền kiểm soát và sự phục tùng. Ngoại trừ tên gọi, đây hoàn toàn là một cuộc đấu tranh quyền lực: nhân danh phẩm giá đạo đức cao cả của đời sống lao động để buộc người lao động phải chấp nhận một lối sống vừa chẳng cao thượng, vừa không đáp ứng những chuẩn mực đoan chính về đạo đức của chính họ."
Tiếp nối mạch phản biện đạo đức lao động của Russell và Bauman, năm 2020, nhà nhân học người Mỹ David Graeber thậm chí tuyên ngôn đanh thép trong bài viết có tựa đề "Nếu muốn cứu thế giới, chúng ta phải ngừng làm việc" trên tạp chí Big Issue. "Dường như cả xã hội chúng ta đã tự thuyết phục chính mình rằng bất kỳ ai không làm việc cật lực hơn mức họ mong muốn, với một công việc mà họ chẳng hề thích thú, đều là một kẻ tồi tệ, không xứng đáng. Kết quả là, công việc ngày càng hút cạn tỷ lệ năng lượng và thời gian lớn hơn bao giờ hết của chúng ta".
Graeber lập luận rất nhiều công việc thực ra hoàn toàn vô nghĩa, và được tạo ra chủ yếu để thuyết phục chúng ta rằng chúng có lý do để tồn tại. Hệ thống này vô nghĩa ở chỗ việc làm được trình bày như thể đó là những câu hỏi về đạo đức cá nhân: Chính "cảm giác rằng chúng ta phải chịu đựng khổ sở thì mới xứng đáng hưởng niềm vui, mới là thứ đang hủy hoại thế giới. Nếu chúng ta muốn cứu thế giới, chúng ta phải ngừng làm việc".
Tuy nhiên, cách đây gần một thế kỷ, Russell đã nhận ra trong một nền kinh tế mà thành quả năng suất không được phân phối công bằng, khả năng giải phóng con người khỏi lao động không dễ trở thành hiện thực. "Chúng ta không có bất kỳ nỗ lực nào nhằm đạt tới công bằng kinh tế... Chúng ta duy trì một tỷ lệ lớn dân số lao động trong cảnh thất nghiệp, bởi vì có thể loại bỏ sức lao động của họ bằng cách bắt những người khác làm việc quá sức. Khi tất cả những phương pháp này tỏ ra bất cập, chúng ta gây ra chiến tranh; chúng ta bắt một lượng lớn người đi sản xuất thuốc nổ công phá cao, và một lượng người khác đi kích nổ chúng, hệt như những đứa trẻ vừa mới khám phá ra trò pháo hoa. Bằng cách kết hợp tất cả các chiêu bài này, chúng ta chật vật duy trì ý niệm rằng lao động chân tay cực nhọc phải là số phận của người bình thường".
Bước sang thời đại AI, văn hóa hối hả không những chưa thuyên giảm mà còn có nguy cơ được khuếch đại mạnh mẽ. Khi AI giúp hoàn thành công việc nhanh hơn, doanh nghiệp lại đặt ra những kỳ vọng cao hơn về tốc độ và sản lượng, buộc người lao động phải liên tục tăng hiệu suất để duy trì lợi thế cạnh tranh. Thời gian tiết kiệm được vì thế dễ bị lấp đầy bởi những nhiệm vụ mới.
Trước áp lực đó, đã xuất hiện không ít những xu hướng công khai thách thức quan niệm rằng một cuộc đời tốt đẹp nhất thiết phải gắn với sự bận rộn làm việc không ngừng. Từ chủ nghĩa tối giản kỹ thuật số (digital minimalism) chủ trương ngắt kết nối tối đa với thiết bị điện tử - và qua đó là với công việc, phong trào "nằm thẳng" (tang ping) của giới trẻ Trung Quốc đến lối sống chậm (slow living), sống đơn giản tự nguyện (voluntary simplicity) hay giảm tốc nghề nghiệp (downshifting) - tất cả đều thể hiện những nỗ lực khác nhau nhằm giành lại quyền tự chủ đối với thời gian và cuộc sống. Dù có ý thức hay không, những xu hướng này đang tiếp nối một dòng tư tưởng và thực hành kéo dài hàng nghìn năm, nhằm chứng minh một điều: sự nhàn rỗi hoàn toàn có thể là phép thử để nhận biết con người thực sự tự do đến đâu và tự do có ý nghĩa thế nào đối với mình.
Văn Minh tổng hợp
Zygmund Bauman, Work, Consumerism and the New Poor
What Ancient Cynicism Can Teach Us About Idleness, https://www.thecollector.com/ancient-cynicism-diogenes-idleness/
Rule of St. Benedict, Chatper XLVIII, Of the Daily Work, https://www.fisheaters.com/benedictrule.html
Thomas Carlyle, Past and Present, Chapter 4, https://www.online-literature.com/thomas-carlyle/past-and-present/27/
Marx’s Human Nature: Distinguishing Essence from Essentialism, https://marxisthumanistinitiative.org/philosophy-organization/marxs-human-nature-distinguishing-essence-from-essentialism.html
Bertrand Russell, In Praise of Idlness, https://harpers.org/archive/1932/10/in-praise-of-idleness/
David Graeber: 'To save the world, we're going to have to stop working', https://www.bigissue.com/opinion/david-graeber-to-save-the-world-were-going-to-have-to-stop-working/