Trong kỳ thi Olympic Thiên văn và Vật lý thiên văn quốc tế (IOAA) 2026 tại Hà Nội mới đây, cả 10 thí sinh Việt Nam đều có huy chương - sáu vàng và bốn bạc. Kỳ thi được tổ chức với niềm mong đợi sẽ khơi dậy niềm say mê thiên văn, đồng thời phát hiện và bồi dưỡng những tài năng trẻ.
Tin tức về kỳ thi khiến tôi nhớ tới thế hệ mình cách đây gần hai mươi năm. Khi ấy, tôi và nhiều người bạn gặp nhau qua những kỳ thi học sinh giỏi, các diễn đàn vật lý trên mạng, hay cùng giải những bài trên báo Vật lý & Tuổi trẻ. Sau đó, tôi học chuyên ngành vật lý lý thuyết tại Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM. Lớp chuyên ngành của tôi chỉ là một nhóm nhỏ trong cả khoa, nhưng hơn một nửa số sinh viên trong lớp cũng theo học hệ Cử nhân tài năng.
Có lần, tôi thử tìm lại những người cùng thời. Nhiều người đã chuyển sang ngành tài chính, công nghệ thông tin hay một ngành nào đó - những lựa chọn hoàn toàn dễ hiểu. Nhưng trong số những người tôi tìm lại được và vẫn gắn bó với vật lý, không ai đang làm việc ở Việt Nam. Điều này khiến tôi không khỏi suy nghĩ.
Ảnh minh họa: Pixabay/Pexels
Một nghiên cứu công bố năm nay, theo dõi 2.642 người từng dự Olympic Toán, Vật lý và Hóa học quốc tế, cho thấy sự tiếp nối khá rõ giữa môn thi Olympic với ngành học, bậc tiến sĩ và công việc sau này [1]. Các kỳ thi Olympic thực sự phát hiện nhiều hạt giống có triển vọng cho con đường nghiên cứu khoa học.
Nhưng thách thức đối với một học sinh tài năng khác xa về bản chất so với thách thức đối với một nhà nghiên cứu. Một bài thi học sinh giỏi dù khó đến đâu vẫn được đặt ra với giả định rằng có một lời giải. Ngược lại, nghiên cứu bắt đầu ở chỗ những điều ấy không còn chắc chắn. Nhà khoa học phải tự hỏi câu đáng hỏi, thử một con đường chưa biết đi tới đâu, có khi mất nhiều tháng rồi nhận ra giả thuyết ban đầu sai.
Quá trình trưởng thành sau những kỳ thi vì thế không đơn giản là tiếp tục giải những bài ngày càng khó hơn. Người trẻ phải học cách sống với bài toán mở, với thời gian dài chưa có kết quả, với việc tự chọn hướng đi và tự chịu trách nhiệm cho lựa chọn ấy.
Thi học sinh giỏi, theo nghĩa đó, mới chỉ là chọn hạt giống. Còn nguyên một chặng đường dài sau đó để ươm dưỡng hạt giống tài năng thành cây.
Một người trẻ muốn trưởng thành trong nghiên cứu cần nhiều hơn một học bổng hay một người hướng dẫn. Họ cần những người cùng chuyên môn để trao đổi hằng ngày, những seminar nơi ý tưởng của họ có thể bị tra vấn đến cùng. Họ cần những đồng nghiệp đủ gần để cùng làm một bài toán và những người đủ khác để chỉ ra một con đường mới. Họ cần thời gian, kinh phí đủ ổn định và một mạng lưới học thuật rộng lớn, không dừng ở ranh giới của một nhóm hay một viện.
Khi tìm được đúng mảnh đất, ngay những cá nhân có xuất phát điểm không thật sự xuất sắc cũng có thể đạt những thành quả nhất định trong con đường học thuật. Tôi biết nhiều nhà vật lý Việt Nam đang làm việc tốt ở nước ngoài không phải là những người đứng đầu các kỳ thi học sinh giỏi thời phổ thông.
Cách nhìn cho rằng để phát triển năng lực của nhà khoa học trẻ, cần xây dựng cả một môi trường nghiên cứu cởi mở, ổn định và lâu dài, thực ra đã bắt đầu được thể hiện trong chính sách gần đây. Nghị định 125 năm 2026 về hoạt động khoa học trong các cơ sở giáo dục đại học yêu cầu chấp nhận rủi ro và độ trễ của nghiên cứu, nhất là với nghiên cứu cơ bản và dài hạn; đồng thời dành riêng cơ chế phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh và mạng lưới hợp tác trong, ngoài nước [2].
Tuy vậy, cách nhìn trên không phải lúc nào cũng được phản ánh đầy đủ và nhất quán trong các chính sách khác. Thông tư 50 năm 2026 quy định người được hỗ trợ đào tạo phải trở lại cơ sở cử đi sau khi tốt nghiệp và làm việc trong thời gian đã cam kết [3]. Ở góc độ sử dụng ngân sách, yêu cầu ấy dễ hiểu. Nhưng với khoa học cơ bản, tấm bằng tiến sĩ mới đưa người học tới một chặng đầu của quá trình trở thành nhà khoa học độc lập.
Trong vật lý, Hội Vật lý Mỹ cho biết khoảng 62% tiến sĩ tiếp tục làm postdoc [4]. Đây là giai đoạn họ được kỳ vọng làm việc độc lập hơn, phát triển ý tưởng và hướng nghiên cứu của riêng mình, xây mạng lưới cộng tác và học cách dẫn dắt nghiên cứu.
Tất nhiên, không phải ai cũng cần đi qua nhiều vị trí postdoc, và các trường đại học có lý do chính đáng để muốn người được tài trợ du học trở về làm việc. Nhưng có lẽ vẫn cần tính đến những lộ trình linh hoạt hơn cho các lĩnh vực và trường hợp cần thêm thời gian nghiên cứu sau tiến sĩ, đồng thời duy trì sự hợp tác với cơ sở cử đi và có kế hoạch trở về rõ ràng.
Ràng buộc trở về có thể đưa một người về nước. Nhưng nếu thời điểm trở về rơi đúng vào lúc người trẻ cần mở rộng mạng lưới và hình thành hướng nghiên cứu riêng mà xung quanh lại thiếu nhóm cùng chuyên môn, thiếu những người ở lĩnh vực khác để trao đổi, thiếu các chương trình postdoc và nguồn lực đủ ổn định, thì họ có thể sẽ phải cân nhắc kỹ hơn về môi trường phù hợp cho chặng đường tiếp theo của mình.
Vì thế, chuyện người trẻ đi ra nước ngoài tự nó không phải là vấn đề. Người làm khoa học thực sự rất cần những chuyến đi như vậy để trưởng thành. Quan trọng hơn là khi trở về, họ có một nơi đủ tốt để làm việc hay không.
Quay lại với kỳ IOAA năm nay. Hai mươi năm nữa, không chắc cả 10 thí sinh Việt Nam tham gia kỳ thi sẽ trở thành nhà thiên văn hay nhà vật lý. Nhưng tôi mong rằng khi một em trong số đó vẫn muốn theo đuổi con đường nghiên cứu khoa học, em sẽ tìm thấy miền đất phù hợp để tài năng được phát hiện của em hôm nay sẽ có cơ hội trưởng thành và góp phần vào năng lực chung của nền khoa học nước nhà.
[1] Yuret, T. (2026). Career paths of International Mathematical (IMO), Physics (IPhO), and Chemistry (IChO) Olympiad participants. Scientometrics, 131, 5231–5249.
[2] Chính phủ (2026). Nghị định số 125/2026/NĐ-CP ngày 06/04/2026 về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026). Thông tư số 50/2026/TT-BGDĐT ngày 30/06/2026 hướng dẫn đào tạo trình độ tiến sĩ, thạc sĩ cho giảng viên đại học theo Quyết định số 89/QĐ-TTg. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.
[4] American Physical Society (APS). Career Profile: Become a Postdoctoral Researcher. APS Careers.