Đi dọc các vùng cà phê Đắk Nông, Đắk Lắk hay Lâm Đồng vài năm gần đây, chúng tôi nhận thấy một thay đổi lớn: nhiều vườn cà phê từng được phun thuốc diệt cỏ cháy đỏ, dọn cỏ sạch sẽ thì nay duy trì thảm cỏ xanh tốt dưới tán cây. Thảm cỏ làm giảm xói mòn, tăng cường đa dạng sinh học cả trên và dưới mặt đất giúp giảm áp lực sâu bệnh hại cho cà phê, cung cấp mùn cho đất, và mang lại lợi thế mà bất kỳ người nông dân nào cũng dễ nhận thấy: đất tơi và ẩm hơn!
Thảm cỏ lạc dại trong vườn cà phê nhà anh Trịnh Tấn Vinh ở Lâm Đồng giúp duy trì đất ẩm, tơi xốp và nhiều mùn. Ảnh: Phạm Hội
Sự thay đổi này không phải tự nhiên diễn ra, mà là kết quả từ sự thay đổi nhận thức của người trồng cà phê về vai trò sinh thái của thảm cỏ trong vườn.
Từ thiên địch thành đồng minh của cây
Tháng 5/2025, nhóm đánh giá của chúng tôi đi qua những vườn cà phê ở xã Quảng Sơn, xã Nâm Nung thuộc (tỉnh Đắk Nông) và Di Linh (tỉnh Lâm Đồng) để tổng kết 5 năm của sáng kiến "Sử dụng có trách nhiệm vật tư nông nghiệp cho cà phê" do Diễn đàn Cà phê Toàn cầu (GCP) triển khai tại năm tỉnh Tây Nguyên từ 2020. Chúng tôi nhớ mãi câu nói của anh Bùi Văn Lương, chủ 2 ha cà phê ở thôn Tân Lập, xã Nâm Nung: "Người ta khó chịu khi thấy cỏ trong vườn, còn tôi khó chịu khi vườn không có cỏ."
Khi đó ai nấy rất ngạc nhiên vì cỏ vốn được coi là "thiên địch" của cây trồng, cỏ từng đồng nghĩa với cạnh tranh dinh dưỡng, sâu bệnh, và nông dân rất tốn tiền mua hóa chất dọn cỏ. Phải sử dụng nhiều hóa chất bảo vệ thực vật là nan đề chung của người trồng trọt. Cà phê được người Pháp đưa vào Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX và trong hàng trăm năm được trồng dưới tán rừng hoặc cây che bóng. Cơn sốt giá những năm 1990-2000 đã xóa gần hết lớp tán ấy, diện tích mở rộng ồ ạt, cây che bóng bị chặt để tăng mật độ cây cà phê và tăng bức xạ mặt trời trực tiếp, từ đó tăng năng suất cà phê; và hệ thống độc canh mới hình thành buộc phải dựa vào phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ để tồn tại. Đổi lại là một vị trí đáng nể - chúng ta đóng góp 16% sản lượng cà phê toàn cầu, kim ngạch xuất khẩu 5 tỷ USD, năng suất khoảng 3 tấn nhân/ha, thuộc nhóm cao nhất thế giới.
Nhưng hậu quả của lạm dụng phân thuốc hóa học ngày càng rõ rệt hơn: đất xói mòn, thiếu nước và ô nhiễm nguồn nước, đa dạng sinh học suy giảm, sức khỏe của người dân bị ảnh hưởng do sử dụng nhiều hóa chất.
Thay đổi từ một lệnh cấm
Sự thay đổi bắt đầu từ glyphosate. Hoạt chất này được đăng ký sử dụng ở Việt Nam từ 1994, và đến cuối thập niên 2010 đã có 104 sản phẩm thương mại chứa glyphosate được lưu hành. Với người trồng cà phê, đó là một giải pháp gần như hoàn hảo: rẻ, nhanh, sạch cỏ, không tốn công. Vấn đề là thuốc trừ cỏ này cũng làm đất mất thảm phủ quanh năm và dần chai cứng. Khi chất hữu cơ cạn kiệt, hệ vi sinh vật đất, bao gồm các thiên địch tự nhiên để bảo vệ cây và đất bị suy yếu. Bên cạnh đó, rễ cà phê trong đất bí chặt, lại hứng chịu thuốc trực tiếp, nên yếu đi và trở thành cửa ngõ cho tuyến trùng xâm nhập và gây hại.
Năm 2019, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa glyphosate ra khỏi danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng [3]. Sức ép phía cầu cũng siết lại cùng lúc: ngưỡng dư lượng tối đa (MRL) của Liên minh châu Âu biến dư lượng từ một vấn đề kỹ thuật thành một điều kiện tiếp cận thị trường EU.
Trong các mẫu cà phê nhân do GCP phối hợp lấy và phân tích qua ba vụ liên tiếp, tỷ lệ mẫu phát hiện glyphosate ở ngưỡng 0,1 mg/kg giảm từ 56% vụ 2020-2021 (379 mẫu) xuống 17,5% vụ 2021-2022 (160 mẫu) và chỉ còn khoảng 1,2% vụ 2022-2023 (252 mẫu) [4].
Nhưng một lệnh cấm chỉ giải quyết được vế "không dùng gì". Vế còn lại là giải pháp nào để thay thế cách diệt cỏ nhanh và tiện lợi trên bạt ngàn nông trại cà phê? Cỏ vẫn mọc, và nếu nông dân không có một cách quản lý cỏ vừa rẻ vừa hiệu quả, lệnh cấm sẽ đẩy họ sang thị trường ngầm, hoặc sang những hóa chất chưa bị cấm.
Ba việc cỏ dại làm được mà không tốn tiền
Giải pháp được GCP chọn để nghiên cứu không phải là một loại thuốc trừ cỏ xanh hơn, mà là một thay đổi trong cách quản lý cỏ dại: duy trì thảm cỏ thành một lớp che phủ sống trên mặt đất (chỉ khống chế chiều cao của cỏ). Kỹ thuật rất đơn giản: cắt cỏ hoặc quật cỏ, chừa lại khoảng 10-20 cm trên mặt đất, thay vì cắt sát gốc hay phun thuốc trừ cỏ.
Lớp cỏ chừa lại làm đồng thời ba việc, và cả ba đều là những việc mà vườn độc canh phải trả tiền để mua: (1) che nắng cho mặt đất nên giảm bốc hơi và giảm số lần tưới; (2) giữ đất khỏi bị rửa trôi trên địa hình dốc của Tây Nguyên; (3) tăng cường đa dạng sinh học và tạo nơi trú ngụ cho thiên địch.
Lớp cỏ dại được quản lý có thể làm những việc mà vườn độc canh phải tốn tiền để làm: che nắng, giảm bốc hơi, giữ đất khỏi bị rửa trôi, và tạo nơi trú ngụ cho thiên địch. Ảnh: Phạm Hội
Anh Lương ở thôn Tân Lập còn đi xa hơn một bước: thay vì bón phân trực tiếp cho cà phê, anh bón cho cỏ, rồi cắt cỏ và để lại trên mặt đất để khi cỏ phân hủy, dinh dưỡng quay lại đất ở dạng dễ tiêu và an toàn hơn cho cây. "Vườn sạch cỏ thì đất chai, vườn có cỏ thì đất tơi", anh nói, sau khi so sánh với các vườn xung quanh.
Điều đáng nói là kỹ thuật này không phải do dự án GCP phát minh ra. Trước đó, từ thập niên 1990, một số người dân sáng tạo ở huyện Bảo Lộc (Lâm Đồng) đã tận dụng thảm cỏ tự nhiên trong vườn chứ không diệt cỏ nữa [5]. Nhiều hộ ở xã Quảng Sơn kể họ bỏ thuốc trừ cỏ chuyển sang máy cắt (sát gốc) từ năm 2014, do học lỏm lẫn nhau, dù "không hoàn toàn hiểu rõ vì sao để cỏ lại tốt hơn cho đất". Khoảng cách giữa "hiểu được", "làm được", và "làm tốt hơn" chính là thứ mà các lớp tập huấn của đối tác GCP (CDC Đắk Lắk, các Công ty thu mua và xuất khẩu cà phê, các tổ chức nghiên cứu...) lấp vào. Và chính những cố gắng đó tạo lên sự khác biệt quan trọng, bởi khi người dân hiểu nguyên lý, họ mới đủ tự tin để áp dụng cho vườn cà phê nhà mình cũng như lan rộng cách làm này.
Trong 54 hộ chủ yếu ở Đắk Nông, Đắk Lắk và Lâm Đồng mà chúng tôi khảo sát, 98% cho biết đã được tập huấn về các phương pháp diệt cỏ không dùng hóa chất và 85% về sử dụng vật tư có trách nhiệm. Hơn 59% hiện không dùng thuốc trừ cỏ, 23% kết hợp máy cắt với một lần phun trước vụ thu hoạch cho dễ hái. Khoảng 74% đánh giá hệ sinh thái vườn "khỏe hơn" hoặc "khỏe hơn nhiều" sau khi áp dụng [4].
Sau ba năm duy trì thảm cỏ, năng suất vườn cà phê của anh Lương tăng từ dưới 3 tấn/ha (2022) lên 3,5 tấn (2024), quả chín đều hơn, tỷ lệ nhân đầy đặn cao hơn.
Nhiều hộ trồng cà phê bỏ thuốc trừ cỏ chuyển sang khống chế chiều cao của thảm cỏ. Ảnh: Phạm Hội
Anh Y'Blun, cùng buôn, dùng một "thước đo" mà ai cũng mang theo người: cắt khi cỏ cao đến đầu gối, chừa gốc 5-7 cm. Anh ghi chép kỹ nhất, và các con số của anh cho thấy vì sao kỹ thuật này lan tỏa: tiết kiệm 22% công lao động và 17-20% nhiên liệu so với diệt sạch cỏ. Một người cắt sát gốc được khoảng 2.000 m² một ngày, nhưng cắt cao thì làm được tới 5.000 m².
Lợi ích còn xuất hiện ở sản phẩm đầu ra. Bà Đào Thị Lụy ở thôn Tân Lập cho biết trước đây phải 4,5 kg quả tươi mới được 1 kg nhân, nay chỉ còn 3,7-3,8 kg. Trong khảo sát, 63% hộ ghi nhận năng suất tăng và 57% thấy chất lượng nhân cải thiện - quả chín đều hơn, hạt to và nặng hơn, vỏ mỏng hơn.
Cần nói rõ, nghiên cứu của chúng tôi có những hạn chế về cỡ mẫu, tính đại diện và lựa chọn: mẫu khảo sát chỉ gồm 54 hộ được lựa chọn bán ngẫu nhiên và 26 người cung cấp thông tin chủ chốt tập trung tại Đắk Nông, Đắk Lắk và Lâm Đồng, lại ưu tiên những cộng đồng được xem là áp dụng phương pháp quản lý cỏ dại tốt. Không có số liệu nền trước dự án, cũng không có nhóm đối chứng, nên phần lớn kết quả dựa vào phỏng vấn lịch sử canh tác của nông hộ. Con số "năng suất tăng" vì thế mới chỉ là một xu hướng, chưa phải một phép đo định lượng.
Từ một lớp cỏ đến một cách làm nông nghiệp khác
Hơn 68% hộ khảo sát cho biết họ thường xuyên hoặc thỉnh thoảng chia sẻ kỹ thuật này với hàng xóm. Kiến thức tự đi được là kiến thức đã thuộc về người dân. Nhưng để kiến thức đi xa hơn, cần vài việc cụ thể.
Với nhà nước và hệ thống khuyến nông trồng cà phê, nên nghiên cứu giải pháp này, có tập huấn tại đồng ruộng cho nông hộ, và đơn giản hóa tài liệu thành hình ảnh, video ngắn theo từng chủ đề hẹp - thao tác máy cắt cỏ, thực hành quật cỏ, sử dụng lớp bổi, ủ phân, tỉa cành, xen canh - đặc biệt cho đồng bào dân tộc thiểu số. Những học liệu số về quản lý cỏ dại sinh thái này, một khi làm xong, có thể dùng cho hàng triệu nông dân trồng cây lâu năm và cây ăn quả trên cả nước. Song song, cần cơ chế cho thuê trợ giá hoặc tín dụng không lãi để hộ nghèo mua máy cắt cỏ - vừa để làm vườn mình, vừa để làm dịch vụ.
Ở tầng chính sách, có hai việc đáng ưu tiên hơn cả. Một là chuyển nguồn hỗ trợ từ vật tư theo vụ sang tín dụng đủ dài, 3-5 năm, và hạ tầng dùng chung cho tuần hoàn phụ phẩm, để nông hộ đi qua được giai đoạn đệm khi đất đang phục hồi. Hai là xây dựng cơ chế chi trả cho dịch vụ sinh thái ngoài rừng, trả tiền cho những giá trị mà thị trường chưa trả: giữ đất, giữ nước, carbon và đa dạng sinh học.
Với doanh nghiệp cà phê, khoảng 40% nông dân còn do dự sẽ không chuyển đổi chỉ vì được khuyên. Truy xuất nguồn gốc đến cấp vườn, cộng với giá thưởng cho hộ áp dụng, là đòn bẩy mà chỉ doanh nghiệp mới có.
Với hợp tác xã và cộng đồng, cần nhớ rằng dịch hại, xói mòn và ô nhiễm không dừng ở bờ lô cà phê. Chất lượng dịch vụ sinh thái chỉ cải thiện thực sự ở quy mô cảnh quan, nên máy cắt cỏ dùng chung, phân ủ và chế phẩm sinh học tự sản xuất, mạng lưới nông dân dạy nông dân và vườn trình diễn do chính nông dân giỏi quản lý sẽ hiệu quả hơn nhiều so với từng hộ đơn lẻ xoay xở.
Với các tổ chức phát triển, có lẽ nên bớt đi tham vọng mang một giải pháp mới từ bên ngoài vào. Câu chuyện Tây Nguyên cho thấy giải pháp thường đã có sẵn ở đâu đó trong vườn của một số nông dân sáng tạo. Việc cần làm là tìm ra nó, chứng minh nó bằng thực nghiệm/mô hình nhỏ, rồi trao lại dữ liệu cho khuyến nông.
Đây chỉ là một góc rất nhỏ trong câu chuyện lớn hơn về chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái nhưng mang lại rất nhiều hi vọng. Lớp cỏ dày 10-20 cm dưới tán cà phê không tốn tiền mua. Nó chỉ cần được hiểu đúng về nông nghiệp sinh thái, và sự "hiểu" ấy lại chính là thứ rẻ nhất và hiệu quả nhất chúng ta cần theo đuổi.
[1] Nguyen, T. (2017). "Sáu điểm nhấn lớn trong bức tranh ngành nông nghiệp Việt Nam". Cafe F. https://cafef.vn/6-diem-nhan-lon-trong-buc-tranh-nganh-nong-nghiep-viet-nam-20170721172622845.chn
[2] Nguyen, N., (2025). "Cần minh bạch chỉ số ICOR." Báo Tuổi trẻ. https://tuoitre.vn/can-minh-bach-chi-so-icor-20251103090155885.htm
[3] Quyết định số 1186/QĐ-BNN-BVTV (4/2019) về loại bỏ glyphosate khỏi Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam.
[4] Hoi. P.V., Thuy. P.T., Grovermann.C., 2025. ‘‘Responsible Use of Agro-Inputs for Coffee in Vietnam." The Final Evaluation Report for the GCP Collective Action Initiative
[5] Pham Van Hoi, Ngo The An (2015). Agroecological farming innovations: Case studies in Hoa Binh and Lam Dong province, Vietnam. Báo cáo cho ALiSEA, dự án AFD "Toward Agroecology Transition in the Mekong Region".