Sự việc trái bưởi Việt Nam vừa bị Australia tạm ngừng nhập khẩu một lần nữa cho thấy để nông sản đi được vào những thị trường khó tính, cần kiểm soát chặt chẽ trong toàn chuỗi, ngay từ đầu vào như đất, nước, giống, phân...
Câu chuyện thị trường đặt lại câu hỏi cho nông nghiệp - sau nhiều thập kỷ thâm canh dựa vào phân bón và thuốc trừ sâu, đất canh tác của chúng ta có khỏe lên? Liệu phân bón và thuốc trừ sâu còn có thể đưa nông nghiệp đi xa hơn nữa? Nếu không, lối ra nằm ở đâu, nhất là đối với những hộ nghèo ít đất vốn dễ tổn thương nhất?
Ảnh minh họa: Một vườn bưởi da xanh ở xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tác giả: Trường Hà
Nghịch lý của thâm canh hóa chất: Chi phí ngày càng nhiều, thu về ngày càng ít
Trong những ngày này, nhóm nghiên cứu của chúng tôi đánh giá ở Đắk Nông, có những vườn cà phê vài năm gần đây đã ngừng hẳn phun thuốc trừ cỏ. Cỏ được để mọc thành thảm dưới tán, kiến vàng quay về làm tổ, ve sầu và rệp sáp thưa dần. Người trồng ban đầu lo năng suất sụt giảm, nhưng điều diễn ra thì ngược lại: đất giữ ẩm tốt hơn, công làm cỏ và tiền mua vật tư giảm, năng suất cà phê tăng, tỷ lệ hạt hai nhân tăng, và cà phê lại được giá hơn. [1]
Ngành nông nghiệp các nước xung quanh cũng có hai bài học điển hình về việc từ bỏ vòng xoáy thâm canh lạm dụng thuốc trừ sâu và phân hóa học.
Ở Indonesia thập niên 1980, càng phun thuốc phổ rộng thì rầy nâu càng bùng phát, bởi thuốc diệt luôn cả thiên địch; đến năm 1986, khi chuyển sang quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), lượng thuốc giảm mạnh mà sản lượng lúa lại tăng [2]. Hóa ra, thuốc bảo vệ thực vật là nguyên nhân chứ không phải giải pháp.
Ở chiều ngược lại, Sri Lanka năm 2021 ra lệnh cấm phân và thuốc hóa học đột ngột, không lộ trình, không nguồn hữu cơ thay thế. Chỉ sau một vụ, sản lượng lúa sa sút và chính sách buộc phải quay đầu.
Một bên cảnh báo cái giá của việc đơn giản hóa hệ thống; bên kia nhắc rằng chuyển đổi sinh thái phải có lộ trình chứ không thể làm qua đêm.
Việt Nam thì sao? Con số nói lên tất cả. Trong giai đoạn 2005–2016, lượng phân bón sử dụng tăng 43% và thuốc bảo vệ thực vật tăng tới 337%, trong khi giá trị tăng trưởng nông nghiệp chỉ tăng 36,8% [3]. Nói cách khác, chúng ta phải tốn chi phí ngày càng nhiều để thu về ngày càng ít. Ví dụ trong giai đoạn 2016-2020, hệ số ICOR trung bình của Việt Nam khoảng 6,1, cao hơn so với các nước có cùng trình độ kinh tế (Thái Lan khoảng 4, Malaysia khoảng 3,5 [4]). Đó không phải tăng trưởng bền vững, mà là một sự phụ thuộc ngày một đắt đỏ.
Chúng tôi nhìn thấy rõ hệ quả phụ thuộc đó khi đi thực địa: những thủ phủ hồ tiêu ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ suy kiệt, cam sành Hàm Yên và Cao Phong xuống dốc. Cơ chế đằng sau nhìn chung khá giống nhau: Khi đất bị cày xới liên tục và tưới đẫm hóa chất, quần xã sinh vật trong đất chết dần, chất hữu cơ cạn kiệt, đất mất cấu trúc và trở nên chai cứng. Một mảnh đất như thế không còn giữ được nước và dinh dưỡng: cùng một lượng mưa, hạn đến sớm hơn còn ngập thì lâu hơn. Để cây khỏi chết, nông dân buộc phải tăng phân, tăng thuốc, tăng nước - và thế là lún sâu thêm vào cái mà ta có thể gọi là vòng xoáy suy thoái đất.
Khôi phục khả năng tự vận hành của nông trại
Để thoát khỏi vòng xoáy ấy, nông nghiệp sinh thái không đi tìm một loại phân hay thuốc "xanh" hơn để thay thế. Nó làm một việc khác về bản chất: khôi phục khả năng tự vận hành của nông trại, dựa trên ba trụ cột.
Đất khỏe: Thay vì cày xới, người ta làm đất tối thiểu hoặc không làm đất, giữ mặt đất luôn được che phủ bằng cỏ cắt và phụ phẩm, bổ sung phân hữu cơ, phân xanh và than sinh học (biochar). Lớp đất mặt khi đó trở thành một cái kho giữ nước và dinh dưỡng, đồng thời giữ lại carbon.
Đa dạng sinh học: Vườn được thiết kế nhiều tầng, có cây gỗ lâu năm và cây họ đậu cố định đạm, nhiều thời điểm thu hoạch khác nhau để phân tán rủi ro thời tiết và giá cả. Quan trọng không kém, sự đa dạng ấy mời gọi mạng lưới thiên địch - kiến vàng, ong, chim, giun đất - quay lại làm nhiệm vụ kiểm soát sâu bệnh mà con người vẫn phải trả tiền để làm thay bằng thuốc.
Tuần hoàn: Nông trại vận hành theo nguyên lý gần như không có phế thải, kiểu mô hình VAC-R cải tiến: chất thải chăn nuôi thành phân và nước tưới giàu đạm, phụ phẩm trồng trọt thành lớp che phủ hoặc biochar. Vòng khép kín này cắt giảm mạnh nhu cầu mua vật tư bên ngoài, đồng thời tạo cho nông sản một nét đặc trưng bản địa khó sao chép.
Điểm mấu chốt, và cũng là điều dễ bị bỏ qua, là cả ba trụ cột này gần như không đòi hỏi vốn lớn. Chúng dựa vào lao động và vật liệu sẵn có tại chỗ. Chính đặc điểm đó khiến nông nghiệp sinh thái trở thành lựa chọn hợp lý một cách đặc biệt cho người nghèo.
Anh Trịnh Tấn Vinh, một người canh tác cà phê hữu cơ ở Lâm Đồng, duy trì thảm cỏ lạc dại trong vườn nhà, giúp đất ẩm, tơi xốp và nhiều mùn. Ảnh: Phạm Hội
Nông nghiệp sinh thái không cho "năng suất thấp" như định kiến
Cách hiểu phổ biến nhất về canh tác sinh thái là năng suất thấp. Bằng chứng khoa học lại nói khác. Đây là một hệ đa dạng cung cấp miễn phí hàng loạt dịch vụ mà hệ đơn canh phải mua bằng tiền: thiên địch tiêu diệt tới hơn một nửa số rệp hại trong vòng 24 giờ, mật độ giun đất phục hồi lên hàng trăm con mỗi mét vuông, lượng nước ngấm bổ sung cho mạch ngầm cao gần gấp đôi so với ruộng đơn canh... Khi những dịch vụ miễn phí này biến mất, nông dân buộc phải thay thế chúng bằng các dịch vụ mất phí: thuốc, phân hóa học, nước tưới và công lao động.
Về hiệu quả kinh tế, khảo sát tại Pháp cho thấy cùng 100 euro vốn bỏ ra, mô hình sinh thái tạo giá trị gia tăng cao hơn hẳn mô hình thâm canh [5]. Tại Ấn Độ, lúa canh tác theo phương pháp thâm canh sinh thái (SRT) cho năng suất tăng 30% - 100% so với lúa truyền thống (làm đất kỹ và sử dụng hóa chất) [6].
Nhưng cần nói rõ: những kết quả thử nghiệm như ở Đắk Nông là thành quả của cả một quá trình nhiều năm, không phải phép màu qua đêm. Muốn có kiến vàng, ong, giun đất, và các loài có ích, trước hết phải ngừng phun thuốc cỏ, giảm cày xới, giảm hóa chất - rồi kiên nhẫn chờ hệ sinh thái tự phục hồi. Đổi lại, sự hiện diện của chính những loài ấy trở thành một dạng "chứng nhận sinh thái" sống động, dễ thấy và khó làm giả trong mắt người tiêu dùng - một lợi thế cạnh tranh mà không đồng tiền quảng cáo nào mua được.
Vậy nhà nước có thể làm gì để những nguyên tắc ấy trở thành cách sản xuất thực tế? Về định hướng, Nghị quyết 19-NQ/TW đã đặt mục tiêu phát triển nông nghiệp xanh, hữu cơ, tuần hoàn, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu. Quyết định 150/QĐ-TTg sau đó cụ thể hóa định hướng này trong Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững đến năm 2030, tầm nhìn 2050. Vấn đề còn lại là làm thế nào để những định hướng đó xuống từng cánh đồng, từng khu vườn.
Vì sao nông nghiệp sinh thái chưa lan rộng
Nếu nông nghiệp sinh thái tốt đến vậy, vì sao nó chưa lan rộng? Câu trả lời có thể gói trong các nút thắt sau:
Khoảng trống pháp lý: Nông lâm kết hợp từng là yêu cầu bắt buộc trong các quy định trước đây, nhưng không còn được đề cập đến trong Luật Trồng trọt 2018. Trong khi đó, canh tác nông lâm kết hợp sẽ giúp tăng đa dạng sinh học, giữ đất và nước, tuần hoàn vật chất và còn phân tán rủi ro cho nông hộ.
Chính sách hỗ trợ chưa tính đến đặc thù của chuyển đổi sinh thái: Chương trình chính sách nông nghiệp hiện nay được thiết kế để hình thành vùng sản xuất tập trung dạng "cánh đồng lớn", quy trình sản xuất thống nhất và liên kết theo chuỗi. Cách tiếp cận này phù hợp với việc tạo ra sản lượng hàng hóa đồng đều, nhưng không phải lúc nào cũng phù hợp với nông nghiệp sinh thái, vốn dựa vào đa dạng cây trồng, đa dạng sinh học và những cách quản lý khác nhau trong đó có nhiều nông hộ nhỏ.
Chưa có cơ chế chi trả cho dịch vụ sinh thái ngoài rừng: Nông hộ canh tác sinh thái sẽ giữ được thảm thực vật, không dùng thuốc trừ cỏ đang tạo ra lợi ích chung về đất, nước, đa dạng sinh học và carbon, nhưng chưa có cơ chế ghi nhận, đền đáp.
Tín dụng, đặc biệt là tín dụng cho nông hộ chưa phù hợp: Kỳ vay ngắn, đòi thế chấp, trong khi chuyển đổi sinh thái cần 2 - 3 năm đệm để đất phục hồi trước khi sinh lời.
Tư duy khuyến nông ngắn hạn: Hễ có dịch là ưu tiên dập nhanh bằng hóa chất để giữ chỉ tiêu sản lượng theo vụ, bỏ qua cái giá dài hạn về sinh thái.
Trước những vấn đề trên, chúng tôi đề xuất các cơ chế cho nông nghiệp sinh thái: Một là, tạo điều kiện để nông dân có thể chuyển đổi: tín dụng đủ dài và hạ tầng dùng chung cho tuần hoàn phụ phẩm, thay vì chỉ hỗ trợ vật tư theo vụ. Hai là, trả tiền cho những giá trị mà nông nghiệp sinh thái tạo ra nhưng thị trường chưa trả: giữ đất, giữ nước, carbon và đa dạng sinh học. Cuối cùng, đổi mới khuyến nông, từ "diệt sâu bệnh" sang quản lý cả hệ sinh thái theo ba nguyên tắc "đất khỏe - đa dạng sinh học - tuần hoàn". Những giải pháp này có thể thấy được từ bài học kinh nghiệm của nhiều quốc gia ở Châu Âu, hay ngay gần ta là Ấn Độ, Indonesia [2,4,5].
Trở lại vườn cà phê ở Đắk Nông. Điều đáng giá nhất mà nó cho thấy không phải là một kỹ thuật, mà là một khả năng: đất có thể hồi sinh, chi phí có thể giảm, và người nghèo có thể tự đứng vững - nếu chúng ta tin và thúc đẩy những giải pháp (gần như) miễn phí mà tự nhiên sẵn lòng cung cấp!
[1] Hoi. P.V., Thuy. P.T., Grovermann. C., 2025. ‘‘Responsible Use of Agro-Inputs for Coffee in Vietnam." The Final Evaluation Report for the GCP Collective Action Initiative.
[2] Wilson, C. and C. Tisdell (2001). "Why farmers continue to use pesticides despite environmental, health and sustainability costs." Elsevier: Ecological Economics 39: 449-461.
[3] Nguyen, T. (2017). "Sáu điểm nhấn lớn trong bức tranh ngành nông nghiệp Việt Nam." from https://www.a-c.com.vn/vn/nong-nghiep/6-diem-nhan-lon-trong-buc-tranh-nganh-nong-nghiep-viet-nam-2512.htm
[4] Nguyen, N., (2025). "Cần minh bạch chỉ số ICOR." From https://tuoitre.vn/can-minh-bach-chi-so-icor-20251103090155885.htm
[5] Ploeg, J. D. v. d., et al. (2019). "The economic potential of agroecology: Empirical evidence from Europe." Journal of Rural Studies, 71. pp. 46-61. 71: 46-61.
[6] Bhadsavle, C. (2022). "Regenerative Ag Boosts Biodiversity, Conservation, Sustainability and Farmer Dignity." https://globalfarmernetwork.org/regenerative-ag-boosts-biodiversity-conservation-sustainability-and-farmer-dignity/