Hoa sữa trên phố Đào Tấn, phường Giảng Võ, TP Hà Nội. Ảnh: Thế Bằng
Năm 1978, khi viết nhạc cho bộ phim Hà Nội mùa chim làm tổ, nhạc sĩ Hồng Đăng được nhà thơ Nguyễn Hương Trâm gợi ý viết về hoa sữa trên phố Nguyễn Du. Dù chưa từng cảm nhận mùi hương loài hoa này, ông vẫn nhanh chóng sáng tác ca khúc Hoa sữa, sau này trở thành một biểu tượng âm nhạc của mùa thu Hà Nội. Sau những sáng tác Nhớ mùa thu Hà Nội của Trịnh Công Sơn đến Hà Nội mùa vắng những cơn mưa của Trương Quý Hải, hoa sữa vượt ra ngoài đời sống âm nhạc, trở thành một biểu tượng quen thuộc của mùa thu Hà Nội. Sinh thời, Hồng Đăng từng hài hước nhận mình mắc một "tội lớn" khi bài hát góp phần khiến hoa sữa được trồng rộng rãi, đến mức ông nhận cả những cuộc điện thoại trách móc vì mùi hương quá nồng.
Gần nửa thế kỷ sau, hoa sữa lại trở thành tâm điểm chú ý vì những lý do gần như trái ngược, xuất phát từ các bài đăng trên mạng xã hội phàn nàn mùi hương quá nồng, thậm chí gây khó chịu cho người sống gần những hàng cây trồng dày.
Những phản ứng ấy lặp lại, được bổ sung bằng những trải nghiệm cá nhân, hình ảnh và bình luận, rồi dần trở thành một luồng ý kiến đáng kể. Báo chí ghi nhận phản ánh của cư dân, đưa những ý kiến trao đổi trên mạng sang vấn đề quản trị đô thị: mật độ và vị trí trồng cây trên các tuyến phố Hà Nội.
Điều đáng chú ý là một loài cây từng được văn hóa đại chúng góp phần đưa lên vị trí biểu tượng nay lại được nhìn qua những trải nghiệm rất khác nhau. Những ký ức ấy không nhất thiết phủ nhận nhau nhưng dẫn đến những mong muốn khác nhau về cùng một không gian sống.
Vì thế, quyết định điều chỉnh những hàng hoa sữa không chỉ liên quan đến hoa sữa mà còn đặt ra vấn đề - khi những trải nghiệm về thành phố không đồng nhất, chính quyền sẽ cân nhắc như thế nào trước những ký ức cộng đồng khác nhau đó.
Đến giữa tháng 10/2026, hoa sữa trở thành đối tượng của những quyết định quản lý cụ thể. Ngày 14/10, lãnh đạo UBND thành phố Hà Nội chỉ đạo rà soát những khu vực có mật độ hoa sữa quá dày và nghiên cứu phương án dịch chuyển bớt cây đến vị trí phù hợp. Sở Xây dựng sau đó yêu cầu ưu tiên xử lý những nơi cây trồng sát nhà dân, khoảng cách không hợp lý, đặc biệt là các khu vực có nhiều phản ánh, kiến nghị về ảnh hưởng của mùi hương đến sinh hoạt. Từ ngày 16/10, công nhân bắt đầu cắt tỉa hoa của gần 1.000 cây trên 13 tuyến đường, phố.
Công nhân cắt tỉa hoa sữa trên phố Trung Hòa ngày 16/10/2026. Ảnh: Lê Tuấn Tâm - Phạm Linh
Một thành phố, nhiều ký ức
Cây đô thị luôn gắn với những ký ức rất khác nhau, thậm chí hoàn toàn trái ngược. Đơn cử, một nghiên cứu cho thấy, cách đây hơn 10 năm, tại Detroit (Mỹ), chương trình trồng cây xanh miễn phí đã vấp phải phản ứng bất ngờ từ chính những người dân được hưởng lợi. Cụ thể, trong giai đoạn 2011-2014, tổ chức phi lợi nhuận The Greening of Detroit nhận được 1.834 yêu cầu từ chối trồng cây, chiếm 24% số cư dân được đề nghị nhận cây. Tại sao người dân một thành phố từng mất hàng trăm nghìn cây xanh lại không muốn có thêm cây ngay trước nhà mình?
Hai nhà nghiên cứu Christine E. Carmichael và Maureen H. McDonough đã đi tìm câu trả lời trong nghiên cứu "Community Stories: Explaining Resistance to Street Tree-Planting Programs in Detroit, Michigan" [1]. Qua phỏng vấn cư dân và những người thực hiện chương trình, họ phát hiện đằng sau sự phản đối là hai cách kể khác nhau về lịch sử thành phố.
Với The Greening of Detroit, những hàng cây mới tượng trưng cho sự phục hồi của một đô thị từng nổi tiếng với những đại lộ rợp bóng xanh. Detroit đã mất hơn nửa triệu cây vào năm 1980 do dịch bệnh, quá trình đô thị hóa và tình trạng thiếu chăm sóc. Chương trình trồng mới cây gắn với nỗ lực cải thiện môi trường, khôi phục cảnh quan và hồi sinh những khu dân cư xuống cấp.
Nhưng nhiều cư dân lại nhớ đến một Detroit khác. Sau nhiều thập niên suy giảm dân số và cắt giảm dịch vụ công, những cây chết, cành gãy, lá rụng, rễ phá hỏng vỉa hè đã trở thành nỗi phiền toái mà họ phải tự xoay xở. Điều này khiến người dân lo ngại cây mới sẽ tiếp tục đẩy trách nhiệm chăm sóc lên vai cư dân, ngay cả khi được trồng trên đất công.
Cả hai phía tổ chức và người dân đều viện dẫn lịch sử Detroit để bảo vệ quan điểm của mình. Tổ chức trồng cây nhớ về một thành phố xanh tươi cần được khôi phục; cư dân nhớ về sự thiếu vắng trách nhiệm khiến những hàng cây trở thành gánh nặng. Cùng một cảnh quan, nhưng ký ức của những người sống trong đó có thể khác nhau đến mức dẫn tới những quyết định trái ngược.
Sự khác biệt trong cách nhớ về quá khứ còn dẫn đến một hệ quả nữa: trong khi một số người thực hiện chương trình tin rằng cư dân cần được nâng cao ý thức về lợi ích của cây xanh, kết quả phỏng vấn lại cho thấy nhiều người dân biết rõ hết những lợi ích ấy mà vẫn phản đối. Nhiều người bày tỏ chỉ chấp nhận cây nếu được lựa chọn loài cây, được hỗ trợ chăm sóc và xử lý những cây chết còn tồn tại. Vì các lựa chọn tự chủ không được đáp ứng, một số người dân đã từ chối trồng cây. Kết quả là, một vấn đề vốn có nhiều cách giải quyết cuối cùng bị thu hẹp thành lựa chọn chấp nhận hoặc từ chối.
Ký ức đô thị, vì thế, không phải một câu chuyện thống nhất được tất cả mọi người chia sẻ theo cùng một cách. Nó được tạo nên từ nhiều mảnh ghép: những gì một thế hệ nhớ về thành phố, những gì cư dân trải nghiệm trong đời sống hằng ngày, những điều được văn hóa đại chúng lưu giữ, và cả những bất tiện mà người khác muốn thay đổi. Một quyết định chỉ dựa trên một mảnh ghép, dù đó là ký ức đẹp hay trải nghiệm khó chịu, đều có nguy cơ bỏ sót phần còn lại.
Cơ sở của việc trồng hay chặt bỏ một loại cây
Trong nửa thế kỷ qua, Hà Nội đã thay đổi sâu sắc cả về không gian lẫn thành phần cư dân. Những khu phố cũ, khu tập thể, chung cư cao tầng và các đô thị mới tạo nên những điều kiện sống rất khác nhau. Hoa sữa có thể gợi nhớ một Hà Nội thân thuộc với người này, nhưng lại gắn với những bất tiện hằng ngày của người khác. Việc điều chỉnh những hàng cây trồng dày là một nhu cầu có cơ sở, nhưng sẽ thiếu sót nếu từ những trường hợp ấy, hoa sữa được định nghĩa như một loài cây gây phiền toái cần loại bỏ. Cuộc tranh luận khi đó lại rơi vào thế lưỡng nan "chấp nhận hoặc từ chối", tương tự những gì từng diễn ra ở Detroit.
Nghiên cứu Detroit gợi ý một cách tiếp cận: thay vì đưa ra trước một hình dung về cảnh quan lý tưởng rồi tìm cách thuyết phục cư dân chấp nhận, những người quản lý cần bắt đầu từ lịch sử, ký ức và điều kiện sống của chính cộng đồng nơi dự án được triển khai. Với Hà Nội, điều đó có nghĩa những lựa chọn về cây xanh nên xuất phát từ đặc điểm và nhu cầu của từng khu vực, thay vì mặc nhiên nhân rộng một loài cây vì giá trị biểu tượng của nó, hoặc đồng loạt loại bỏ loài cây ấy vì những phản ứng tiêu cực.
Sự phát triển của truyền thông cho phép cách tiếp cận này trở nên khả thi. Nếu trước đây, văn hóa đại chúng có sức mạnh tạo dựng một hình ảnh Hà Nội được nhiều người cùng chia sẻ, thì ngày nay những cư dân ở từng khu phố, từng khu chung cư có điều kiện để tự kể về môi trường sống của mình.
Khi đó, sự đa dạng của tiếng nói có thể chuyển thành sự đa dạng của những lựa chọn cảnh quan, thay vì tiếp tục tạo ra những quyết định đồng loạt dưới ảnh hưởng của một câu chuyện đang chiếm ưu thế.
Nửa thế kỷ trước, những ca khúc giúp hoa sữa trở thành một hình ảnh chung của Hà Nội. Ngày nay, mạng xã hội cho phép nhận biết những trải nghiệm khác biệt đằng sau hình ảnh ấy. Sẽ là nghịch lý nếu sau khi đã nghe được nhiều câu chuyện hơn về thành phố, chúng ta vẫn tiếp tục tổ chức cảnh quan bằng nguyên tắc mỗi con phố chỉ cần một câu chuyện, được thể hiện qua một loài cây duy nhất.
Tài liệu trích dẫn trong bài:
[1] Community Stories: Explaining Resistance to Street Tree-Planting Programs in Detroit, Michigan, USA. Society & Natural Resources, 7/1/2019.
https://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/08941920.2018.1550229