Năm 1961, phi hành gia Yuri Gagarin trở thành người đầu tiên bay ra ngoài vũ trụ. Đến nay, đã có khoảng 700 người từng vượt trọng trường Trái Đất để bước ra không gian mênh mông ngoài kia. Một con số rất ít ỏi so với toàn bộ dân số nhân loại đã sống và chết trong hơn nửa thế kỷ qua. Tiểu thuyết Quỹ đạo (Orbital) của Samantha Harvey, giải Booker năm 2024, là câu chuyện của những cá nhân ít ỏi ấy.
Bức ảnh Earthrise do phi hành gia Bill Anders thuộc phi hành đoàn Apollo 8 chụp vào ngày 24/12/1968, khi tàu bay trên quỹ đạo quanh Mặt Trăng, ghi lại cảnh Trái Đất mọc trên đường chân trời của Mặt Trăng. Ảnh: Wikipedia
Một nhóm phi hành gia sống trong trạm vũ trụ quốc tế, mỗi ngày họ bay quanh địa cầu 16 lần. Mỗi ngày họ thấy Mặt Trời mọc 16 lần, lặn 16 lần.
Nếu Trái Đất là một cuốn tiểu thuyết, thì những phi hành gia ấy chính là những nhân vật được trao cho góc nhìn của Chúa. Họ thấy những sự hình thành và tan rã của những cơn bão khủng khiếp nhất, các dòng thời tiết luân chuyển đêm ngày. Họ thấy cả hành tinh, ngôi nhà của hàng tỷ người, hàng tỷ tỷ sinh vật sống, nơi mà như Carl Sagan từng mô tả, một cái chấm xanh nhạt chứa đựng mọi vui buồn của chúng ta, mọi tôn giáo, hệ tư tưởng, mọi người hùng và kẻ hèn, mọi vị vua và dân đen, mọi vị thánh và kẻ mang tội...
Dòng văn chương vũ trụ có thể phân chia theo nhiều kiểu. Có những tác phẩm viễn tưởng với tầm vóc choáng ngợp, cầu kỳ, bày ra những dòng sự kiện lắt léo, trong đó nhà văn như một kiến trúc sư dựng ra thế giới liên ngân hà đồ sộ, chẳng hạn Tam Thể của Lưu Từ Hân, 2001: A Space Odyssey của Arthur C. Clarke. Nhưng cũng có những tác phẩm mà vũ trụ hiện ra như một bài thơ, con người là một từ ngữ, một dấu chấm câu, một tứ thơ trong bài thơ ấy. Đó là kiểu của Ray Bradbury và Samantha Harvey.
Quỹ đạo không có cốt truyện lớp lang, không có hành trình phát triển nhân vật, không có va chạm hay xung đột, cũng chẳng có cao trào. Nó chỉ kể chuyện một ngày trên trạm vũ trụ, trong cái phi thuyền lơ lửng giữa những tầng không. Đặt nó vào thể loại tiểu thuyết cũng cần chút gượng ép.
Nhưng nếu một độc giả từng yêu, chẳng hạn, câu chuyện của Bradbury trong tập Biên niên ký sao Hỏa (The Martian Chronicles) về người phụ nữ thiếp đi trong đêm cuối cùng trên Trái Đất, trước khi lên tàu vũ trụ để đoàn tụ với vị hôn thê trên Sao Hỏa, thì có lẽ người đó cũng sẽ yêu tác phẩm của Harvey. Chúng giống nhau ở chỗ, công cuộc khám phá vũ trụ của con người ở đó hiện lên vừa phi thường thật đấy, nhưng cũng có gì đó tầm thường. Con người càng đạt đến tầm vóc lớn lao hơn, lại càng thấy mình vùng vẫy trong giới hạn chật hẹp của chính mình. Con người càng bay xa hơn, bay cao hơn, càng thấy mình chỉ dứt được mối ràng buộc của lực hấp dẫn chứ chẳng dứt được mối ràng buộc với những nỗi niềm trần thế.
Bản tiếng Việt của Orbital dày 134 trang, ra mắt độc giả cuối tháng Tư vừa qua. Ảnh: Mai Liên
Thậm chí, khi cuộc sống bị thu hẹp lại trong không gian đóng kín là chiếc phi thuyền, những băn khoăn, những tâm tư, những nỗi đau của họ càng cô nén lại, đậm đặc hơn. Không còn chỗ nào để trốn tránh chúng nữa.
Bước ra vũ trụ bên ngoài vì thế thực ra cũng là trở về vũ trụ bên trong. Một mặt, họ ngắm nhìn những lục địa lướt qua, những núi tuyết hùng vĩ, những sa mạc màu trái mơ, những cánh rừng cháy xém, những sông băng lùi xa, những núi lửa ngút khói...
Mặt khác, họ cũng thấy toàn bộ địa hình trong mình lộ thiên. Những lòng chảo mất mát, những bình nguyên nhớ thương, những thung lũng giấc mơ. Đâu chỉ Trái Đất nổi lên những xoáy lốc nhiệt đới, con người cũng có những trận động đất của ký ức, những đợt phun trào âu lo, những ngọn sóng cồn của tiếc nuối.
Từ buổi sơ khai, con người đã luôn trầm trồ ngước lên bầu trời, tưởng tượng về chốn xa xôi ấy là chốn toàn thiện, chốn thần tiên, là thiên đường, là nơi những khổ sở trên mặt đất hoàn toàn tan biến. Giờ đây, khoa học cho chúng ta bay lên vùng trời xa hơn mọi thiên đường ta từng hình dung, rồi sao?
Một phi hành gia vẫn đau đáu nghĩ về cuộc hôn nhân đã cạn kiệt tình yêu của mình. Một phi hành gia khác không ngừng nhớ về người mẹ sống trong ngôi nhà gỗ ven biển Nhật Bản đã qua đời trong khi cô đang bay vòng vòng quanh Trái Đất với tốc độ hàng chục ngàn km/h.
Khổ đau và cái đẹp. Sự sống và cái chết. Con người và vũ trụ. Thất bại và tựu thành. Hữu thể và tồn tại. Sự vô thường và sự vĩnh hằng. Tất cả những cặp chủ đề ấy, từng đôi từng đôi, như những cặp khiêu vũ lả lướt trong tác phẩm văn chương lộng lẫy, duyên dáng, ngồn ngộn chất thơ này.
Những đoạn văn miêu tả khung cảnh của địa cầu khi nhìn từ bên ngoài thật tuyệt diệu! Và vũ trụ tuyệt diệu bao nhiêu, con người càng hoang mang về mình bất nhiêu. Đứng trước cái kỳ vĩ của tạo hóa, ta sao có thể không đặt câu hỏi về ý nghĩa của tất cả những điều mình làm, về thân phận mong manh như hạt cát, về lịch sử ngắn ngủi của nhân loại?
Vũ trụ mười bốn tỷ năm là một saga, một sử thi, một trường ca, còn con người? Con người có lẽ chỉ là một chương, thậm chí chỉ là một cặp câu thơ, một tiểu tiết trong danh tác ấy. Có một chi tiết thế này trong Quỹ đạo: trên trạm vũ trụ ấy, vì mâu thuẫn Nga - Mỹ trên mặt đất, khu vệ sinh của hai bên cũng được phân chia rõ ràng. Nhưng, để làm gì? Khi đứng ở đủ cao mà nhìn xuống, những phi hành gia thấy các quốc gia và châu lục lần lượt vụt qua, liền mạch một dải, tất cả hòa vào nhau, như những vần thơ nối đuôi. Tự nhiên bao dung. Con người thì nhỏ mọn.
Nhưng cả điều đó cũng không khiến ta thôi cảm động vì con người.
Là con người, khi bay ra ngoài vũ trụ, là chấp nhận những nguy cơ lớn lao về sức khỏe. Teo cơ. Mất xương. Ung thư. Não biến dạng. Thị lực suy yếu. Máu đông. Lão hóa sớm hơn mười năm. Nhưng hãy tưởng tượng, một ngày nào đó, ta tạo nên một giống loài robot đủ khả năng để trở thành phi hành gia.
Robot phi hành gia, hẳn sẽ tránh được đủ rắc rối. Robot chẳng cần thức ăn, nước uống, chẳng sợ tổn hại sức khỏe. Robot chẳng biết nhớ nhà, cũng chẳng thấy cô đơn. Robot còn chẳng cần đi vệ sinh nữa. Robot chẳng phải quá ưu việt so với chúng ta? Nhưng một phi hành gia đã đặt câu hỏi thế này: "Sẽ thế nào nếu đưa ra ngoài vũ trụ những tạo vật không có mắt để nhìn ngắm và không có trái tim để sợ hãi hân hoan?"
Đúng vậy, con người rất nhỏ bé. Nhưng nếu có một điều gì đó tuyệt đẹp về con người, đó là con người có thể nhận thức sự nhỏ bé của mình, nhìn thấy sự lẻ loi của mình, sự lộng lẫy của vũ trụ. Vũ trụ có thể không được tạo ra để con người nhìn ngắm. Nhưng nếu không có con người thì ai sẽ cảm nhận cái vô song của vũ trụ, ai sẽ viết:
Con người bẩm vũ trụ:
"Thưa Ngài, tôi hiện hữu!" [1]
---
[1] Hai câu mở đầu bài thơ A Man Said to the Universe của Stephen Crane, được xuất bản trong tập War Is Kind năm 1899.