Không phải bất kỳ nơi nào không có cây cũng cần trồng rừng. Lý do là những nơi không có cây chưa chắc đã là vùng đất trống, đất hoang hay hệ sinh thái bị suy thoái. Đồng cỏ ngập nước, trảng cỏ, đầm lầy, bãi triều, bãi bùn ven biển đều là những hệ sinh thái tự nhiên đã tồn tại hàng nghìn năm, với những loài sinh vật và chức năng sinh thái riêng.
Trồng cây ở những nơi ấy không phải là phục hồi, mà là chuyển đổi một hệ sinh thái thành một hệ sinh thái khác. Nói cách khác, hoạt động mang tên "phục hồi thiên nhiên" khi đó có thể lại làm mất đi chính thiên nhiên.
Bài học từ Vườn quốc gia Tràm Chim
Nhắc đến Đồng Tháp Mười, nhiều người nghĩ ngay đến rừng tràm. Tràm (Melaleuca cajuputi) là loài cây bản địa, thích nghi tốt với đất phèn và chế độ ngập nước theo mùa. Vì vậy, trồng tràm để "phủ xanh" hay "phục hồi" Đồng Tháp Mười thoạt nghe hoàn toàn hợp lý.
Nhưng lịch sử cảnh quan cho thấy một câu chuyện khác. Ảnh hàng không năm 1958 cho thấy khu vực Tràm Chim khi ấy chủ yếu là đồng cỏ ngập nước theo mùa; rừng cây chiếm chưa tới 10% diện tích [1]. Những đồng cỏ năng, lúa ma và các quần xã thực vật thân thảo ngập nước mới là thành phần chính của cảnh quan Đồng Tháp Mười xưa.
Các quần xã năng (Eleocharis spp.) là sinh cảnh kiếm ăn quan trọng của sếu đầu đỏ và nhiều loài chim nước khác. Và mục tiêu khi thành lập Vườn quốc gia Tràm Chim cũng chính là lưu giữ một hình mẫu của hệ sinh thái Đồng Tháp Mười nguyên thủy.
Rừng tràm được trồng rất nhiều trên sinh cảnh đồng cỏ trong Khu A1 Vườn quốc gia Tràm Chim. Ảnh Trần Triết, 9/2026
Thế nhưng nhiều chương trình trồng rừng đã được thực hiện tại đây, và tràm đã được trồng cả trên những nơi trước đó vốn là đồng cỏ. Diện tích tràm trong vùng lõi Vườn quốc gia Tràm Chim hiện đã chiếm hơn 30%, tức gấp 3 lần tỉ lệ tự nhiên [2]. Tác động không dừng lại ở phần diện tích bị cây chiếm chỗ. Rừng tràm dễ cháy vào mùa khô. Do đó, để bảo vệ rừng, nước được giữ ở mức cao trong thời gian dài, và chế độ nước ấy lại bất lợi cho các quần xã năng vốn cần một chu kỳ ngập - khô tự nhiên. Ưu tiên cho cây tràm đã kéo theo cả một chế độ quản lý bất lợi cho đồng cỏ.
Số lượng sếu đầu đỏ về Tràm Chim đã giảm mạnh. Sự suy giảm này có nhiều nguyên nhân, trong đó có việc mất sinh cảnh trên toàn vùng hạ lưu sông Mekong, và không thể quy hết cho việc trồng tràm [3]. Tuy vậy, việc đồng cỏ năng bị thu hẹp ngay trong Vườn quốc gia chắc chắn không giúp gì cho loài chim này, và khiến mục tiêu lưu giữ hình mẫu Đồng Tháp Mười xưa trở nên rất khó đạt được.
Tràm được chọn vì là cây bản địa, nhưng bản địa của vùng chưa chắc đã là bản địa của sinh cảnh. Khi một đồng cỏ ngập nước tự nhiên được trồng kín tràm, chúng ta không tạo thêm rừng. Chúng ta đã đổi một hệ sinh thái này lấy một hệ sinh thái khác.
Bãi bùn có thực sự là đất trống?
Ra vùng ven biển, khi thủy triều xuống, trước mắt chúng ta có thể là hàng ngàn hecta bãi bùn, không một bóng cây. So với một rừng mắm hay rừng đước xanh tốt ngay bên cạnh, bãi bùn rất dễ tạo cảm giác như một khoảng trống mà thiên nhiên chưa kịp hoàn thiện. Và từ đó nảy sinh một ý tưởng rất hấp dẫn: tại sao không trồng cây ngập mặn lên đó?
Không thể phủ nhận giá trị của rừng ngập mặn. Chúng bảo vệ bờ biển, tích lũy carbon, là nơi cư trú, sinh sản và ương dưỡng của nhiều loài thủy sinh. Việt Nam đã mất nhiều rừng ngập mặn trong chiến tranh cũng như trong quá trình phát triển. Phục hồi những khu rừng đã mất là việc hết sức cần thiết.
Nhưng có một phân biệt rất quan trọng: bãi triều tự nhiên không phải là rừng ngập mặn bị suy thoái. Nó là một hệ sinh thái khác. Cây ngập mặn chỉ tự định cư được trên phần bãi đủ cao, nơi thời gian ngập triều mỗi ngày đủ ngắn. Phần bãi thấp hơn, ngập lâu hơn, là địa bàn của một quần xã sinh vật hoàn toàn khác.
Nhìn trên bề mặt, bãi bùn có vẻ nghèo nàn. Nhưng dưới lớp bùn là giun nhiều tơ, nhuyễn thể, giáp xác cùng vô số sinh vật đáy, tảo đáy và vi sinh vật tạo nên một mạng lưới thức ăn có năng suất cao. Khi triều lên, cá và giáp xác vào kiếm ăn; khi triều xuống, chim nước xuất hiện.
Đối với nhiều loài chim di cư, các bãi triều Đông Á là những "trạm tiếp nhiên liệu" trên hành trình dài hàng ngàn km. Việc mất bãi triều dọc bờ biển Hoàng Hải (Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên) [4] đã được ghi nhận là gắn liền với sự suy giảm quần thể của nhiều loài chim di cư trên đường bay Đông Á - Úc. Không có những bãi bùn tưởng như trống rỗng ấy, một số loài chim không thể hoàn tất cuộc di cư của mình [5].
Bãi triều cũng không "vô dụng" đối với việc bảo vệ bờ. Một bãi triều rộng làm tiêu hao năng lượng sóng trước khi sóng tới bờ. Trầm tích bãi triều cũng tích lũy carbon, dù bằng chứng định lượng hiện còn ít hơn nhiều so với rừng ngập mặn.
Những cảnh báo đã có từ trước
Tại Xuân Thủy (Ninh Bình), vùng đất ngập nước Ramsar đầu tiên của Việt Nam và là một điểm quan trọng trên đường di cư Đông Á - Úc, các tài liệu của BirdLife trước đây đã xác định hai sinh cảnh đặc biệt quan trọng là bãi triều tự nhiên không bị xáo trộn và rừng ngập mặn tự nhiên.
Một vạt rừng ngập mặn Vườn quốc gia Xuân Thủy. Ảnh: Lê Hoàng
Điều đáng chú ý là tài liệu này cũng ghi nhận việc trồng cây ngập mặn đã diễn ra trên các bãi triều, với mục tiêu lấn đất và bảo vệ bờ. Những khu vực ấy vốn là nơi kiếm ăn của Cò thìa mặt đen, Mòng biển mỏ ngắn, Rẽ mỏ thìa và nhiều loài chim di cư khác. Kiến nghị quản lý khi ấy rất rõ: không tiếp tục trồng rừng ngập mặn trên các bãi triều có giá trị này.
Một trường hợp tương tự được ghi nhận tại Nghĩa Hưng (Ninh Bình). Ở cửa sông Đáy, một phần bãi triều đã được trồng cây ngập mặn. Tài liệu của BirdLife xếp việc trồng rừng trên bãi triều, cùng với chuyển đổi đất ngập nước thành ao nuôi thủy sản, vào nhóm những nguyên nhân làm mất sinh cảnh chim nước.
Ở Đồng bằng sông Cửu Long, trồng rừng trên bãi bồi ven biển vẫn đang được thực hiện ở nhiều tỉnh [6]. Nhưng trước khi trồng, đã có đánh giá nào về động vật đáy và chim nước trên bãi này chưa?
Tất nhiên cần nói rõ, không phải lúc nào trồng rừng trên bãi bồi cũng gây tác động tiêu cực. Một bãi bồi đang cao dần và đã thích hợp cho cây mắm tự nhiên định cư hoàn toàn khác với một bãi triều ổn định, giàu động vật đáy và là nơi kiếm ăn quan trọng của chim nước. Khi bãi đủ cao và điều kiện ngập triều trở nên thích hợp, cây ngập mặn tự định cư, giữ thêm trầm tích, và rừng dần phát triển. Đó là diễn thế tự nhiên.
Trong phục hồi sinh thái hiện đại, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy đối với rừng ngập mặn, điều quan trọng trước tiên là phục hồi điều kiện thủy chế và địa mạo phù hợp; khi những điều kiện ấy trở lại, nhiều nơi rừng có thể tự tái sinh. Ngược lại, kinh nghiệm ở Philippines cho thấy nhiều chương trình trồng cây ngập mặn trên bãi bùn và thảm cỏ biển, nơi vốn không có rừng, cho kết quả kém [7].
Đàn cò mỏ thìa quý hiếm kiếm ăn ở một dải đất ngập nước ven rừng Xuân Thủy. Ảnh: Lê Hoàng
Một hecta rừng không phải lúc nào cũng là một hecta thiên nhiên
Kinh nghiệm trồng rừng ngập mặn ở Việt Nam còn cho thấy một nghịch lý khác. Một báo cáo của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam về các mô hình trồng rừng ngập mặn miền Bắc ghi nhận nhiều chương trình trước đây trồng cây trên các bãi bồi chưa có rừng với mật độ từ 5.000 đến 16.000 cây mỗi hecta [8]. Tỷ lệ sống trung bình chỉ khoảng 42%; nhiều nơi cây chết 80-90%.
Con số này không chỉ là chuyện lãng phí. Cây chết hàng loạt thường là dấu hiệu cho thấy cây đã được trồng ở nơi không phải sinh cảnh của rừng ngập mặn: bãi còn thấp, ngập quá lâu hoặc sóng quá mạnh. Nói cách khác, chính thiên nhiên đã trả lời câu hỏi "nơi này có cần cây không?"
Thông thường chúng ta xem một dự án trồng rừng thất bại khi cây chết. Nhưng sinh thái học buộc chúng ta phải đặt thêm câu hỏi: nếu cây sống thì sao? Nếu cây sống trên một bãi thích hợp cho rừng ngập mặn, đó có thể là một thành công. Nhưng nếu cây sống tốt trên một bãi triều vốn là sinh cảnh tự nhiên quan trọng, chúng ta lại có thể thất bại trong việc bảo tồn thiên nhiên. Trồng sai chỗ, vì vậy, có thể thất bại theo hai cách: cây chết thì mất tiền; cây sống thì có thể mất một hệ sinh thái.
Vì sao những sai lầm này cứ lặp lại? Một phần nằm ở cách chúng ta đo thành tích. Các chương trình trồng rừng thường được giao chỉ tiêu và đánh giá bằng diện tích; gần đây có thêm kỳ vọng về tín chỉ carbon. Khi cần tìm đất để đạt chỉ tiêu, bãi bồi, đồng cỏ hay trảng cỏ thường là nơi dễ có nhất: không tranh chấp, không phải đền bù, và nhiều nơi đã được xếp vào nhóm "đất chưa sử dụng".
Chính cách đo thành tích như vậy làm cho việc phục hồi các hệ sinh thái như cũ không hề dễ dàng, nếu không nói là bất khả thi. Chẳng hạn, ở Vườn quốc gia Tràm Chim, rất khó phục hồi hệ sinh thái đồng cỏ ngập theo mùa đã bị cây tràm lấn chiếm bởi vì những khoảnh rừng tràm này đã được kiểm kê và ghi nhận là diện tích che phủ rừng. Chặt đi có nghĩa là hành động "phá rừng", làm ảnh hưởng đến "độ che phủ", "chức năng chống chịu biến đổi khí hậu" và "tín chỉ carbon".
Mặt khác, khái niệm "đất trống đồi núi trọc" trong lâm nghiệp từ lâu đã gộp chung với đất bị suy thoái hay các vùng đất trống, qua đó vô tình khuyến khích việc chuyển đổi.
Việt Nam đang đầu tư đáng kể cho bảo vệ và phục hồi rừng ven biển. Chỉ trong 5 năm gần đây, hơn 11.000 ha rừng ven biển đã được trồng mới, trồng bổ sung hoặc phục hồi [9]. Trong con số ấy, bao nhiêu là phục hồi những khu rừng ngập mặn đã mất? Bao nhiêu là hỗ trợ tái sinh tự nhiên? Bao nhiêu là trồng mới trên những bãi bồi đang trong quá trình tự nhiên chuyển thành rừng? Những con số vốn rất khác nhau về ý nghĩa sinh thái lại thường được cộng chung thành "diện tích rừng được trồng và phục hồi".
Quy trình đánh giá trước khi trồng rừng
Một thay đổi không tốn kém là báo cáo diện tích theo hiện trạng trước khi can thiệp: phục hồi rừng đã mất, hỗ trợ tái sinh tự nhiên, và trồng mới trên nền vốn không phải rừng. Nhóm thứ ba cần được đánh giá sinh cảnh trước khi phê duyệt. Không có công thức chung, nhưng có ba câu hỏi nên được trả lời trước khi bắt đầu.
Thứ nhất, nơi này trước đây có lịch sử cảnh quan như thế nào?
Thứ hai, nếu nơi này phù hợp cho cây, vì sao cây không tự mọc? Nếu do thủy văn đã bị thay đổi bởi đê, kênh, ao nuôi, thì việc cần làm trước là sửa thủy văn.
Thứ ba, hiện nay những loài nào đang sống dựa vào nơi này? Một bãi bùn có chim di cư, một đồng cỏ năng có sếu kiếm ăn không phải là đất trống, dù trên bản đồ hiện trạng nó có thể được ghi như vậy.
Đây cũng là cách tiếp cận của các tiêu chuẩn phục hồi sinh thái quốc tế, vốn bắt đầu bằng việc xác định "hệ sinh thái tham chiếu" cho nơi cần phục hồi.
Phục hồi thiên nhiên, xét cho cùng, không phải là làm cho mọi nơi đều có nhiều cây hơn mà là phục hồi đúng hệ sinh thái ở đúng nơi.
[1] Trần Triết. An introduction to the biophysical environment and management of wetland of Tram Chim National Park, Dong Thap province, Vietnam. Tạp chí Phát triển KH&CN, tập 8, số 6/2005.
[2] Trần Triết. Cháy rừng ở Vườn quốc gia Tràm Chim nhìn từ góc độ sinh thái học. Tuổi trẻ (12/6/2024). https://tuoitre.vn/chay-rung-o-vuon-quoc-gia-tram-chim-nhin-tu-goc-do-sinh-thai-hoc-20240612153057862.htm?gidzl=PlnbARPZdbfYu68dkd-QMc_bOIYWUPfH9ETdBF8ior8XipTz-NoP3o-rCdEhAPa9VxmrT3ZXhSrAjMURLm
[3] Barzen et al. (2023). Sarus Cranes in Cambodia and Vietnam. In: Proceedings of the International Sarus Crane Workshop. International Crane Foundation.
[4] Studds, C.E., Kendall, B.E., Murray, N.J., ... & Fuller, R.A. (2017). Rapid population decline in migratory shorebirds relying on Yellow Sea tidal mudflats as stopover sites. Nature Communications 8: 14895. https://doi.org/10.1038/ncomms14895
[5] Murray, N.J., Clemens, R.S., Phinn, S.R., Possingham, H.P. & Fuller, R.A. (2014). Tracking the rapid loss of tidal wetlands in the Yellow Sea. Frontiers in Ecology and the Environment 12(5): 267–272.
[6] Quỹ hỗ trợ Phát triển cộng đồng Sống bền vững. Chương trình Hạnh Phúc Xanh - Dự án Forest Symphony (Giao hưởng rừng xanh) - Trồng rừng vững đất Sóc Trăng. Giải thưởng Hành động vì cộng đồng (Human Act Prize). https://humanactprize.org/chuong-trinh-hanh-phuc-xanh-du-an-forest-symphony-giao-huong-rung-xanh-trong-rung-vung-dat-soc-trang-199240905102627552.htm
[7] Primavera, J.H. & Esteban, J.M.A. (2008). A review of mangrove rehabilitation in the Philippines: successes, failures and future prospects. Wetlands Ecology and Management 16(5): 345–358. https://doi.org/10.1007/s11273-008-9101-y
[8] Đoàn Đình Tam Báo cáo kết quả đề tài: Nghiên cứu kỹ thuật trồng rừng ngập mặn trên các điều kiện lập địa khó khăn góp phần chắn sóng vùng ven biển các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, 8/5/2015. https://vafs.gov.vn/vn/bao-cao-ket-qua-de-tai-nghien-cuu-ky-thuat-trong-rung-ngap-man-tren-cac-dieu-kien-lap-dia-kho-khan-gop-phan-chan-song-vung-ven-bien-cac-tinh-mien-bac-viet-nam/#
[9] Sơ kết 5 năm thực hiện Đề án bảo vệ và phát triển rừng ven biển: Tăng tốc cho giai đoạn 2026-2030. Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, 8/12/2025. https://vnforest.gov.vn/2025/12/08/so-ket-5-nam-thuc-hien-de-an-bao-ve-va-phat-trien-rung-ven-bien-tang-toc-cho-giai-doan-2026-2030/