Xuất phát từ tư tưởng Đạo giáo, khái niệm "khí" đã phủ bóng lên hội họa thủy mặc ở các nước Á Đông suốt 1600 năm.
Trong bản luận thuyết đầu tiên về tranh thủy mặc, mang tên "Họa sơn thủy tự", Tông Bính 宗炳 (375-443) đã viết rằng họa sĩ cần gạn lọc lòng mình, loại bỏ tạp niệm, để có thể gần "Đạo". Chỉ khi làm vậy, anh ta mới có khả năng cộng cảm với thần khí của sông núi, để rồi truyền tải nó lên bức vẽ, nhằm giúp người thưởng ngoạn trải nghiệm những rung động tương ứng khi xem tranh.
Đến thế kỷ VI, thời kỳ Nam–Bắc triều, khi đề ra sáu nguyên tắc của tranh thủy mặc, Tạ Hách 謝赫 đặt nguyên tắc đầu tiên là "tạo khí vận sinh động" – tức nắm bắt sức sống của đối tượng rồi truyền tải nó qua bức vẽ.
Sang thời Tống, Tô Đông Pha (1037-1101) kế thừa quan niệm về "khí" của Tông Bính và Tạ Hách, rồi dùng nó làm giá trị cốt lõi của phong trào "sĩ phu họa" – tức hội họa của sĩ phu – mà ông lập nên.
Thời Nguyên, khi cuộc xâm lược của quân Mông Cổ làm giảm ảnh hưởng của giới sĩ phu, nhiều kẻ sĩ lui về ở ẩn và sống trong văn chương, khiến phong trào "sĩ phu họa" đổi tên thành "văn nhân họa".
Vương Miện 王冕 (1287-1359) chính là một trong số những sĩ phu ở ẩn, ban đầu hơi bất đắc dĩ. Là đứa con ham học của một dòng họ quan lại sa sút thành nông dân, ông từ bỏ con đường công danh sau vài lần thi trượt ở cả nghề văn lẫn nghề võ. Ông dạy học một thời gian ngắn rồi bỏ, chuyển sang vẽ tranh kiếm sống, và dần nổi tiếng với những bức vẽ hoa mai. Nhờ danh tiếng ấy, ông được mời làm quan, nhưng lần này khước từ, vì biết mình không hợp với chốn cửa quyền ô trọc.
Trong bài thơ "Mặc mai" 墨梅, Vương Miện mô tả một cây mai bằng mực mọc bên bờ ao nơi những người họ Vương rửa bút. Những đóa mai loang màu mực nhạt ấy không đợi người đời khen hương sắc, mà chỉ cần lưu lại khắp đất trời cái "khí" thanh tao. Như vậy, Vương Miện đã đặt khái niệm "khí" vào trung tâm của bài thơ được người đời sau xem như tuyên ngôn nghệ thuật của ông. Những bài khác, như "Bạch mai" 白梅 hay "Đề họa mai" 題畫梅, cho thấy ông đã chọn cây mai làm tấm gương soi mình, cốt học được từ nó cái thái độ rời xa tục lụy để giữ vẹn nguyên tự tính.
Dù học hỏi lối vẽ mai của những họa gia thời Tống như Dương Vô Cữu 楊無咎, Vương Miện đã sáng tạo một phong cách của riêng mình, là vẽ những cây mai cổ thụ có hoa nở rộ thay vì cành mai mảnh khảnh có hoa thưa. Đó là những cây mai hoang dã, mọc trong góc rừng mà văn nhân ẩn cư thay vì trong vườn nhà quan; chúng đợi mùa Xuân để tỏa rộ mọi sức sống đang nén trong thân cằn, thay vì cố giữ cái duyên của đời sống cớm nắng hay bàn tay tỉa tót.
Trong nguyên tắc thẩm mỹ đề cao sự tiết chế của tranh thủy mặc cổ điển, việc thể hiện những cành mai nở rộ hẳn đặt ra không ít thách thức. Nhờ sự nhạy cảm sâu sắc với hình thức và tinh thần của đối tượng, Vương Miện đã vượt qua thách thức ấy, để lại những bức vẽ hoa mai không trùng lặp về khí chất.
Ta sẽ gặp một ví dụ khi ngắm bức Nguyệt hạ mai hoa đồ 月下梅花图 (Tranh hoa mai dưới trăng), hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Nghệ thuật Cleveland. Trong tác phẩm này, Vương Miện đã vận dụng quy tắc âm dương để điều chỉnh sức sống mạnh mẽ của cây mai, sắp đặt nó thành một tổng thể hài hòa, cho phép cảm giác sinh sôi chậm rãi nhưng lâu dài trên nền móng là một kết cấu ổn vững. Nhìn tổng thể, ta bắt gặp một loạt các cặp đối lập giữa trăng và cây mai, giữa những cánh hoa và phần thân gỗ: trắng-đen, nhu-cương, ẩm-khô, trẻ-già, điểm-nét... Hoa trắng nở rồi tàn trong một mùa, còn thân gỗ đen sẽ ở lại trăm năm. Nhưng khi mặt trăng được vẽ như một cánh hoa lớn hơn, ta thấy quan hệ vừa nêu đảo ngược: thân gỗ đen sống một đời hữu hạn, còn cánh hoa trăng sẽ ở lại vĩnh viễn. Theo cách này, trong âm có dương, trong dương có âm, cặp tính chất đối nghịch tương tác xoay vòng, khiến cảm giác và suy tưởng của người thưởng tranh tiếp tục sinh sôi theo ánh nhìn lang thang qua các chi tiết tranh. Và dù hoa và cành hoàn toàn đối lập nhau, chúng tựa vào nhau mà sống như một tổng thể thống nhất.
Nguyệt hạ mai hoa đồ (trái) và Nam chi xuân tảo đồ của Vương Miện. Ảnh: CC
Quy tắc cân bằng âm dương cũng hiện diện trong việc sắp đặt bố cục. Nhìn tổng thể, ta thấy thân và cành của cây mai mọc theo hai mạch: thân chính uốn lượn như lò xo bị nén để làm mềm đi, trong khi cành phụ mọc thẳng một cách quật khởi trước khi uốn mình duyên dáng để sinh các nhánh. Dù cành mai rẽ nhánh, mọi nhành hoa đều hướng về mặt trăng. Sức sống được nén chặt trong thân cây già cỗi uốn lượn hình chữ S, rồi được điều chuyển một cách tiết chế qua các cành mai thanh tao, trước khi bừng phát đồng loạt qua những chùm hoa ở đầu cành, rồi tụ lại tỏ mờ ở mặt trăng mà các bông hoa đều hướng đến.
Hãy xem tiếp bức Nam chi xuân tảo đồ 画南枝春早图 , được lưu giữ tại Bảo tàng Cố cung Đài Bắc tại Đài Loan. Trong các bức vẽ hoa mai của Vương Miện, bức này bàng bạc bóng dáng của sự mất mát. Có hai cành mai mờ đi rồi biến mất, không rõ đã gãy rụng từ lâu, bỏ lại sẹo gỗ tuyệt mệnh, hay đang mọc vào sương. Lại có những cành hoa đang sống nhưng được ngăn với thân bằng một quãng cách nom như khớp xương, như thể sự sinh trưởng tự nó mang trong mình những chuyển động dẫn đến tách lìa; cành và thân tuy còn chung huyết quản với nhau nhưng đã có những đời sống riêng, cách nhau và nối nhau bằng một bức vách. Có lẽ đây là cảm giác của những gia đình tam đại đồng đường, hoặc của những cơ thể phải dung dưỡng nhiều đoạn quá khứ không nhất thiết ưa nhau. Nhìn tổng thể, cây mai trong tranh mô phỏng dáng dấp một cánh tay đang vươn lên trời, nó định chạm vào trời nhưng chỉ chạm vào mép giấy bên trên; nó không nắm được cái gì trong tay ngoài mùa hoa thoắt nở thoắt tàn của nó.
Chi tiết trong Nam chi xuân tảo đồ - cành mờ đi rồi biến mất, và cành cách thân một "khớp xương". Ảnh: CC
Đó có thể là tư thế của Vương Miện. Trong 72 năm đời mình, ông chỉ vẽ hoàn chỉnh 30 bức tranh – một lượng tác phẩm không đủ để kiếm sống qua ngày, dù trong số đó có những tuyệt tác. Vì vậy, trong những bài thơ Vương Miện để lại, ta thường bắt gặp cảnh ông đi làm ruộng, hái rau rừng, hoặc hái thuốc để kiếm ăn. Qua thơ, ông nhiều lần tỏ sự tủi hổ vì mình không thể nuôi sống gia đình, gồm người vợ đói lả và người mẹ ốm đau. Cái nghèo cũng mang đến nỗi nhục, như trong những lần ông bị hàng xóm mai mỉa, hoặc chửi là "điên", vì nghèo kiết xác mà vẫn vẽ tranh, đọc sách.
Vì sao Vương Miện không làm quan khi được tiến cử? Trong bài "Thương đình hộ" 傷亭戶, Vương kể chuyện mình qua Đông Quan, gặp tiếng khóc giữa đêm của một ông lão làm muối neo đơn, bị sưu cao thuế nặng khiến nhà không còn một hạt thóc. Hai con ông đều chết trên đường mưu sinh, bỏ lại ông sống mòn khi bị nha lại đánh đập, mắng nhiếc mỗi ngày. Sáng ra, gió đẩy cánh cửa, để lộ gian nhà trống có một xác người chết treo, nay đã cứng.
"Khí" trong tranh vẽ của Vương Miện, trước hết, là kiểu khí sạch như tờ giấy trắng tinh. Vương đã dọn mình thành tờ giấy này, để mở đường cho kẻ khác bước vào trong ông – dù đó là hoa mai hay một ông lão treo cổ vì sưu thuế.