Ung thư là một căn bệnh đáng sợ và gây ra nhiều phản ứng cảm tính nhất so với các bệnh nguy hiểm khác như tim mạch hay thấp khớp. Do đó, không ngạc nhiên khi nhiều nơi trên thế giới, người ta chi tiêu ra hàng tỉ USD để đi tìm thuật điều trị nhằm cứu sống hay ít ra là kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân. Ở nước ta, ung thư đang là một trong những bệnh nguy hiểm cướp đi hàng chục ngàn mạng sống hàng năm. Việc nghiên cứu và phát triển một thuốc rẻ tiền nhưng có hiệu quả để cứu sống bệnh nhân, dù với vai trò bổ trợ hay điều trị, là một nỗ lực rất đáng hoan nghênh.
![]() |
Vấn đề nghiên cứu khoa học
Tìm trong thư viện y khoa quốc tế (PubMed), người viết bài này không thấy một kết quả nghiên cứu nào liên quan đến thuốc Aslem. Như vậy, có thể nói rằng tất cả kết quả liên quan đến thuốc chưa bao giờ được bình duyện (hay "phản biện") bởi giới chuyên môn quốc tế.
Tìm trên mạng, tôi thấy một thông tin khoa học liên quan đến thuốc dưới hình thức một báo cáo tóm lược (abstract) của Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ quốc gia. Theo báo cáo này, Aslem là một loại thuốc kích thích hệ thống miễn dịch được nghiên cứu và phát triển tại Đại học Dược Hà Nội [1]. Như vậy, thuốc không có chức năng điều trị, mà chỉ hỗ trợ điều trị ung thư.
Vẫn theo báo cáo trên, Aslem đã được thử nghiệm ở 23 bệnh nhân ung thư ruột tại Bệnh viện Việt Đức từ tháng 5/2005 đến 5/2006, và kết quả cho thấy sau khi điều trị số tế bào CD3+ và CD8+ ở bệnh nhân được khôi phục mức độ lúc ban đầu (trước khi giải phẫu) và tăng cao sau khi giải phẫu. Tuy nhiên, rất tiếc báo cáo không cung cấp dữ liệu cụ thể tăng bao nhiêu, nên rất khó đánh giá hiệu quả của thuốc. Ngoài ra, vì đây là một nghiên cứu không có nhóm chứng (control, tức nhóm không được điều trị bằng Aslem), nên chúng ta cũng không thể kết luận rằng thuốc có hiệu quả khả quan hơn các thuốc hiện hành hay khả quan hơn so với người không dùng thuốc nào.
Qua báo chí, tôi biết rằng thuốc còn được thử nghiệm ở 88 bệnh nhân ung thư phế quản tại Viện Lao và Bệnh phổi trung ương, ở 74 bệnh nhân ung thư vú ở Bệnh viện K. Nhưng kết quả lại được mô tả rất khác nhau: trong khi có tin cho rằng "Những bệnh nhân này đều có cải thiện về thời gian sống thêm 4 năm so với nhóm bệnh nhân không được điều trị" [2], lại có ý kiến của chuyên gia rằng "Kết quả điều trị giữa nhóm nghiên cứu (được dùng Aslem kèm theo các biện pháp điều trị thông thường) và nhóm đối chứng (không dùng Aslem) không khác nhau." [3] Lại có ý kiến của một chuyên gia về một số trường hợp cụ thể mà theo đó bệnh nhân ung thư từng được uống thuốc Aslem từ 10-15 năm trước và cho đến nay vẫn "sống khỏe mạnh" [2].
| Nhìn qua y văn quốc tế, dễ dàng thấy rằng phần lớn nghiên cứu về thuốc điều trị (hay hỗ trợ điều trị) ung thư đều được tiến hành trên hàng ngàn bệnh nhân với thời gian theo dõi tối thiểu là 1 năm, nhưng đại đa số là 3 năm. Bất cứ nghiên cứu nào được tiến hành trên một số lượng nhỏ bệnh nhân mà kết quả có thể biết trước được là không có giá trị cao thì câu hỏi về y đức có thể đặt ra. |
Thật vậy, nhìn qua y văn quốc tế, dễ dàng thấy rằng phần lớn nghiên cứu về thuốc điều trị (hay hỗ trợ điều trị) ung thư đều được tiến hành trên hàng ngàn bệnh nhân với thời gian theo dõi tối thiểu là 1 năm, nhưng đại đa số là 3 năm. Bất cứ nghiên cứu nào được tiến hành trên một số lượng nhỏ bệnh nhân mà kết quả có thể biết trước được là không có giá trị cao thì câu hỏi về y đức có thể đặt ra.
Cố nhiên, đứng trên quan điểm khoa học, không thể dựa vào một số trường hợp đơn lẻ để thẩm định hiệu quả của thuốc. Trong thực tế, không ai biết có bao nhiêu trường hợp sử dụng thuốc mà không có hiệu quả. Ngoài ra, cần phải nói thêm rằng có một số trường hợp bệnh nhân hết bệnh do sự dao động sinh học của tế bào, chứ chẳng phải do thuốc nào. Chỉ khi nào có nhiều nghiên cứu có phương pháp và hệ thống thì bằng chứng về hiệu quả của thuốc mới có thể đánh giá khách quan được.
| Cho đến nay, không một thông tin nào về nghiên cứu cơ bản liên quan đến thuốc Aslem được công bố. Ngay cả những kết quả mà báo chí đề cập đến cũng chưa thấy xuất hiện trên một tập san khoa học đáng tin cậy nào. Trong bối cảnh như thế, thật là đáng tiếc khi các nhà nghiên cứu đã vội vã công bố trên báo chí về hiệu quả của thuốc. Việc làm này không nhất quán với qui ước Ingelfinger (tức nhà khoa học chỉ phát biểu về kết quả khi nào một tập san đã công bố kết quả đó) mà các nhà khoa học quốc tế vẫn xem là kim chỉ nam cho hoạt động khoa học và tương tác với truyền thông. |
Cho đến nay, không một thông tin nào về nghiên cứu cơ bản liên quan đến thuốc Aslem được công bố. Ngay cả những kết quả mà báo chí đề cập đến cũng chưa thấy xuất hiện trên một tập san khoa học đáng tin cậy nào. Trong bối cảnh như thế, thật là đáng tiếc khi các nhà nghiên cứu đã vội vã công bố trên báo chí về hiệu quả của thuốc. Việc làm này không nhất quán với qui ước Ingelfinger (tức nhà khoa học chỉ phát biểu về kết quả khi nào một tập san đã công bố kết quả đó) mà các nhà khoa học quốc tế vẫn xem là kim chỉ nam cho hoạt động khoa học và tương tác với truyền thông.
Vấn đề phê chuẩn và quản lí thuốc
Dược phẩm là loại hàng hóa đặc biệt, vì sự ảnh hưởng trực tiếp của thuốc đến sức khỏe con người. Chính vì thế mà ở các nước phát triển, chính phủ thường có một hệ thống quản lí thuốc rất chặt chẽ, ngay từ khâu nghiên cứu, phê chuẩn, đến tiêu thụ. Có thể nói qui trình phê chuẩn của FDA (Food and Drug Admininistration – Cục quản lí thực phẩm và thuốc) của Mĩ là một mô hình chuẩn được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Nói một cách ngắn gọn, các nhà sản xuất (công ti dược) phải chứng minh rằng thuốc của họ có hiệu quả và an toàn trước khi được phê chuẩn cho xuất hiện trên thị trường và điều trị bệnh nhân. Để chứng minh hai khía cạnh này (hiệu quả và an toàn), công ti phải tiến hành một loạt nghiên cứu qua 3 khâu: khâu 1 gồm các nghiên cứu tiền lâm sàng (pre-clinical study), tức nghiên cứu trên tế bào và chuột hay động vật; khâu 2 bao gồm các nghiên cứu lâm sàng giai đoạn I, II và III trên người; và khâu 3 là kiểm tra dữ liệu và phê chuẩn.
![]() |
Sau khi hoàn tất các nghiên cứu tiền lâm sàng và nghiên cứu lâm sàng giai đoạn I, II và III, nhà sản xuất phải nộp tất cả số liệu, dữ liệu, kết quả nghiên cứu cho FDA để được duyệt xét và phê chuẩn cho sử dụng. Thông thường mỗi đơn như thế dài đến 100.000 trang giấy và nhiều đĩa CD gồm các dữ liệu ở dạng mà các chuyên gia FDA có thể kiểm tra bằng phân tích thống kê. FDA có hàng trăm chuyên gia về y khoa lâm sàng, dịch tễ, thống kê, sinh hóa học độc tố, v.v... phân tích và bình duyệt đơn của nhà sản xuất. Phần lớn các hội đồng này là các giáo sư và nhà khoa học từ các đại học. Nhân sự của FDA hiện nay là khoảng 9.000 người, trong số này có gần 500 chuyên gia thống kê sinh học chuyên phân tích và ... soi mói các dữ liệu nghiên cứu! Đây là một đội chuyên gia được xem là đáng sợ nhất của các công ti dược, vì chỉ một bình duyệt tiêu cực của họ là toàn bộ hồ sơ phải làm lại! Chỉ khi nào hội đồng này phê chuẩn thì thuốc mới được sử dụng theo chỉ định.
| Quản lí dược Việt Nam (thuộc Bộ Y tế) đã phê chuẩn cho lưu hành từ tháng 7/2007, trong khi kết quả nghiên cứu vẫn còn trong vòng tranh cãi! Đã có người đặt vấn đề việc phê chuẩn như thế là hơi vội vã. |
Mô tả qui trình phê chuẩn thuốc của FDA tôi không có ý nói nước ta phải làm như thế, vì điều kiện địa phương chưa cho phép chúng ta có một hệ thống cồng kềnh như thế. Tuy nhiên, qua qui trình phát triển, nghiên cứu và phê chuẩn thuốc như mô tả trên, chúng ta thấy cách làm ở nước ta có phần khác biệt lớn. Thật vậy, trong trường hợp Aslem, Cục Quản lí dược Việt Nam (thuộc Bộ Y tế) đã phê chuẩn cho lưu hành từ tháng 7/2007, trong khi kết quả nghiên cứu vẫn còn trong vòng tranh cãi! Đã có người đặt vấn đề việc phê chuẩn như thế là hơi vội vã.
Một câu chuyện cũ nhưng có ý nghĩa cho ngày nay
Y học trong những năm cuối thế kỉ 20 cho đến nay (và có thể trong thế kỉ 21) dựa vào triết lí của y học thực chứng (evidence-based medicine). Theo triết lí này, thực hành lâm sàng phải dựa vào bằng chứng khoa học. Bằng chứng khoa học được đúc kết từ nhiều nghiên cứu dịch tễ và lâm sàng. Trong y học thực chứng, tất cả những ý kiến cá nhân dù là của các chuyên gia hay giáo sư đầu ngành không thể xem là bằng chứng, hay là loại "bằng chứng" có giá trị khoa học thấp nhất.
![]() |
| Cho đến nay, khách quan mà nói, vẫn chưa có đủ bằng chứng khoa học để bác bỏ tác dụng của Aslem. Do đó, có lẽ ưu tiên hàng đầu hiện nay là tiến hành một số nghiên cứu độc lập để đánh giá hiệu quả và an toàn của thuốc. Ngoài ra, cần phải phân tích lại các dữ liệu nghiên cứu trong quá khứ để đi đến một mô hình nghiên cứu mới và sáng tạo hơn. |
GS.Nguyễn Văn Tuấn là nghiên cứu viên cao cấp của Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan. Anh đã công bố nhiều bài báo trên các tạp chí khoa học hàng đầu như Nature, New England Journal of Medicine, Lancet, JAMA...và là cố vấn khoa học của nhiều trung tâm nghiên cứu lớn trên thế giới. |
![]() |
[1] Tài liệu của Trung tâm thông tin khoa học và công nghệ quốc gia (National Center for Scientific and Technological Information) viết: "Initial evaluation of the effect of Fufol-Aslem combination therapy on the immune parameters of peripheral blood in adjuvant treatment of post-surgery colorectal cancers [Bước đầu đánh giá tác dụng của phác đồ Fufol-Aslem trên các thông số miễn dịch máu ngoại vi trong điều trị bổ trợ sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng] / Đỗ Tuấn Minh,Nguyễn Hoàng Anh, Đào Kim Chi,... // TC Dược học . -2006. -No 9. -p. 19-22. -(vie). -ISSN 0866-7225.
Aslem, a nonspecific immunostimulant sythesized at Hanoi college of pharmacy has long been used as an adjuvant therapy in treatment of cancer. The primary investigation of the effects of Fufol-Aslem on the peripheral blood immune parameters of 23 colorectal cancer patients treated at the department of gastrointestinal surgery, Viet Duc hospital (from 05/2005 to 05/2006) showed that: At the end of the treatment, the number of CD3+ and CD8+ in the Aslem group restored the level before surgery and increased remarkably in comparison with the level after surgery. The PHA-induced transformation rate of the treated group also grew significantly in comparison with both levels before and after surgery. By group tended to decrease after the surgery."
[2] Người lao động, số ra ngày 2/3/2008. "Thuốc Aslem: điều trị hỗ trợ ung thư"
[3] Tuổi Trẻ, 3/3/2008. "Aslem có kéo dài cuộc sống của bệnh nhân ung thư?"
[4] Chúng tôi có kinh nghiệm về các phương pháp mới trong việc thiết kế nghiên cứu thích hợp cho ngành ung thư, và có thể cố vấn trong vấn đề này.




