Bộ GD&ĐT đang tích cực chuẩn bị cho sự ra đời của Khung tiêu chuẩn chức danh GS, PGS bằng Quyết định số 1972/QĐ-BGDĐT ngày 8/7/2026 về việc thành lập nhóm chuyên gia tư vấn [1]. Theo đó, nhóm quy tụ 41 chuyên gia hàng đầu chia thành 5 khối ngành khoa học, hoạt động theo cơ chế kiêm nhiệm và tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Các chuyên gia này đều là các lãnh đạo, thư ký của 28 Hội đồng Giáo sư ngành/liên ngành [2].
Từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy quản trị hiện đại
Phải thấy rằng, quyết định số 1972/QĐ-BGDĐT đã phản hồi kịp thời sự mong mỏi, chờ đợi của cộng đồng học thuật, đặc biệt là các ứng viên GS, PGS tiềm năng, bởi mô hình xét, công nhận và bổ nhiệm GS, PGS đang vận hành với nhiều bất cập và mâu thuẫn. Chúng xuất phát từ tư duy quản lý tập trung, cào bằng, thiếu sự phân biệt giữa các loại hình trường và giữa các ngành/khối ngành.
Tới đây, việc xét và công nhận GS, PGS sẽ được tiến hành theo 5 khối ngành, thay cho 28 ngành/liên ngành như hiện nay, thể hiện sự chuyển dịch từ tư duy cục bộ sang tư duy hệ thống.
GS Phan Thành An, Viện trưởng Viện Toán học và các Khoa học Tính toán (IMACS), Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia TP HCM, trao đổi với sinh viên, tháng 11/2025. Ảnh: Lệ Nguyễn
Dựa trên Khung tiêu chuẩn chức danh GS, PGS - được coi như một mặt bằng về đạo đức, năng lực khoa học tối thiểu - cùng các nghị định mới về tổ chức lại bộ máy theo hướng thúc đẩy việc quản lý nhân sự theo vị trí việc làm [3], các trường đại học được quyền tự chủ xây dựng tiêu chuẩn riêng cho mình - cao hơn hoặc bằng chuẩn quốc gia, sao cho phù hợp với sứ mệnh (đại học định hướng nghiên cứu hay định hướng ứng dụng), điều kiện và năng lực.
Thay đổi cơ bản này sẽ mở ra cơ hội giao quyền "xét và bổ nhiệm chức danh" về tay Hiệu trưởng và Hội đồng xét duyệt cấp cơ sở giáo dục đại học, thay vì mô hình ba cấp (cơ sở, ngành/liên ngành và nhà nước). Mô hình ba cấp hiện nay tạo ra một phễu lọc hành chính quá dài và chỉ cần một khâu gặp trục trặc (ví dụ, khiếu kiện, thiếu thành viên hội đồng), toàn bộ quy trình của ứng viên sẽ bị đình trệ. Với tư duy mới, GS, PGS không còn là một danh xưng khoa học do Nhà nước phong tặng mà trở thành một vị trí gắn liền với nhu cầu thực tế, năng lực trả lương và chiến lược phát triển của từng cơ sở giáo dục đại học. Nhà nước chính thức chuyển từ vai trò người xét duyệt trực tiếp (tiền kiểm) sang vai trò người ban hành luật và giám sát (hậu kiểm).
Từ những khả năng nêu trên, Khung tiêu chuẩn chức danh GS, PGS có thể góp phần bảo đảm tính liền mạch, thông suốt của công tác phát triển đội ngũ trí thức cao cấp của đất nước.
Trước đây, quy trình xét duyệt từng rơi vào kịch bản kéo dài, dồn ứ hồ sơ, hoặc bị gián đoạn. Trong khi đó, việc duy trì liền mạch công tác xét và bổ nhiệm chức danh GS, PGS không đơn thuần là thủ tục hành chính, mà là mạch máu sống còn nuôi dưỡng hệ sinh thái học thuật. Đội ngũ GS, PGS được bổ sung liên tục hằng năm chính là biểu tượng cho năng lực nội sinh về KH&CN và giáo dục đại học của quốc gia. Sự thông suốt cũng sẽ giúp việc thẩm định hồ sơ không bị suy giảm chất lượng do tình trạng dồn ứ; đồng thời bảo đảm sự cạnh tranh của các trường đại học Việt Nam trên các bảng xếp hạng thế giới, nơi định lượng về tỷ lệ giảng viên có chức danh cao cấp rất khắt khe.
Những vấn đề cần thảo luận thêm
Tuy nhiên, nếu phân tích sâu theo các chuẩn mực của các tổ chức xếp hạng và tài trợ nghiên cứu quốc tế, Quyết định còn bộc lộ một số hạn chế, có thể do áp lực về thời gian ban hành.
Thứ nhất, việc gom cụm khối ngành còn mang tính cơ học và hành chính, chẳng hạn, xếp Nông nghiệp và Khoa học sức khỏe (Y học, Dược học) thành một khối ngành. Trên thực tế, Khoa học sức khỏe có hệ thống nghiên cứu lâm sàng, thử nghiệm trên người và chuẩn mực đạo đức y sinh vô cùng ngặt nghèo; trong khi Nông nghiệp lại gắn liền với hệ sinh thái vĩ mô, an ninh lương thực và phát triển bền vững. Sự gộp chung này làm loãng tiếng nói chuyên sâu của từng ngành, dẫn đến nguy cơ Khung tiêu chuẩn chung bị khiên cưỡng. Ở các nước phát triển, Nông nghiệp thuộc Khối ngành Khoa học Sự sống, bao gồm Sinh học.
Trong khi đó, ngành Sinh học lại được tách sang nhóm ngành Khoa học tự nhiên, kỹ thuật - một sự chia cắt thiếu logic khoa học. Sinh học chính là nền tảng lý thuyết cốt lõi, cung cấp công cụ (di truyền, vi sinh, sinh thái...) cho Nông nghiệp ứng dụng ngoài thực địa, đặc biệt trong kỷ nguyên hướng tới Net Zero và kinh tế tuần hoàn. Sự chia cắt này làm triệt tiêu tư duy phát triển chuỗi giá trị và ngăn cản việc nâng tầm học thuật khối Nông nghiệp theo chuẩn quốc tế.
Thứ hai, danh sách các chuyên gia thiếu vắng hẳn đại diện quốc tế và khu vực tư thục xuất sắc. Việc 100% chuyên gia thuộc các viện, trường công lập và cơ quan quản lý nhà nước tạo ra một vòng khép kín. Khi xây dựng khung chuẩn học thuật quốc gia, các nước phát triển bắt buộc phải mời các học giả quốc tế (bảo đảm tính hội nhập) và đại diện các đại học tư thục xuất sắc (bảo đảm tính đa dạng, bình đẳng). Thiếu vắng các thành tố này, khung tiêu chuẩn dễ mang tính cục bộ và bảo thủ.
Thứ ba, tiềm ẩn rủi ro "vừa đá bóng, vừa thổi còi" khi các chuyên gia xây dựng khung tiêu chuẩn lại chính là những người đang vận hành hệ thống xét duyệt đương nhiệm. Xu hướng thiết kế chính sách hiện đại yêu cầu tách biệt giữa cơ quan soạn thảo tiêu chuẩn (chiến lược, khách quan) và cơ quan thực thi xét duyệt (kỹ thuật). Khi người thực thi đi xây dựng "luật chơi", họ dễ có xu hướng bảo vệ "lợi ích lối mòn", "lợi ích nhóm" hoặc hạ bớt tiêu chuẩn để phù hợp với năng lực xét hiện tại của Hội đồng Giáo sư ngành mình, triệt tiêu động lực bứt phá. Ngoài ra, nếu không có một nhãn quan đổi mới mãnh liệt, họ có thể vô thức tạo ra các rào cản ngăn chặn các xu hướng học thuật mới, các phương pháp nghiên cứu hiện đại vốn khác biệt với kinh nghiệm của mình.
Thứ tư, Quyết định bỏ trống cơ chế đãi ngộ, ngân sách nghiên cứu dữ liệu và thời hạn hoàn thành cụ thể. Khi không có cam kết nguồn lực chuyên trách, các giáo sư (vốn rất bận rộn quản lý tại cơ sở) có thể rơi vào tình trạng hoàn thành theo kiểu "cắt dán", chắp vá từ các quy định cũ để kịp tiến độ hành chính. Dù tin tưởng vào tự trọng khoa học của các chuyên gia khả tín, đây vẫn là một lỗ hổng quản trị cần được nhìn nhận.
Linh hoạt hiệu chỉnh để đạt hiệu quả tối ưu
Quyết định đã ban hành như "mũi tên rời cung". Tuy nhiên, để đạt hiệu quả tối ưu, Bộ Giáo dục và Đào tạo hoàn toàn có thể linh hoạt hiệu chỉnh phương thức triển khai thông qua các giải pháp kỹ thuật sau:
Tái cấu trúc nhóm chuyên gia theo bản chất phương pháp luận khoa học thành 7 Tiểu ban Chiến lược: Tiểu ban Khoa học Sự sống gồm Nông - Lâm - Thủy sản, Sinh học, Công nghệ sinh học và Sinh thái học (đưa Sinh học về làm bệ đỡ cho Nông nghiệp); Tiểu ban Khoa học Sức khỏe gồm Y học, Dược học, Y tế công cộng (bảo đảm chuẩn mực đặc thù ngành); Tiểu ban Khoa học Tự nhiên và Trái đất gồm Toán, Vật lý, Hóa học, Cơ học, Khoa học Trái đất; Tiểu ban Kỹ thuật và Công nghệ gồm CNTT, Điện-Điện tử, Cơ khí, Xây dựng-Kiến trúc-Giao thông; Tiểu ban Khoa học Xã hội, Nhân văn, Kinh tế và Luật; Tiểu ban Nghệ thuật, Thể thao và Thực hành Sáng tạo (dành cho các ngành có đầu ra đặc thù là tác phẩm, công trình biểu tượng hoặc thành tích đỉnh cao); Tiểu ban An ninh, Quốc phòng.
Bổ sung nhân sự đa chiều: Cần bổ sung một-hai học giả là nhà khoa học Việt kiều hoặc quốc tế có chỉ số H-index cao đang làm việc tại Việt Nam và một chuyên gia về trắc lượng khoa học (Scientometrics) từ các Đại học Quốc gia/Đại học Sư phạm để chuẩn hóa các tiêu chí định lượng.
Thiết lập cơ chế Quản trị hiệu suất: Bổ sung điều khoản phụ quy định rõ sản phẩm đầu ra, thời gian nộp dự thảo, quy trình phản biện độc lập. Áp dụng mức kinh phí đặc thù cho nghiên cứu dữ liệu thay vì chi phí hội họp thông thường. Khống chế thời gian hoàn thiện bộ Khung trong vòng 4-5 tuần để kịp tiến độ xét và bổ nhiệm thường niên.
Xây dựng chính sách dựa trên bằng chứng: Bộ nên giao cho một đơn vị chuyên trách về CNTT thực hiện quét (scan) toàn bộ dữ liệu Web of Science/Scopus và hồ sơ thực tế của các ứng viên đã đạt chuẩn GS, PGS trong 5 năm gần nhất. Việc định lượng chính xác "ngưỡng năng lực thực tế" sẽ giúp đưa ra các tiêu chuẩn tiệm cận quốc tế nhưng khả thi, chấm dứt tư duy "bốc thuốc" hay ước lượng cảm tính.
Các đề xuất cải tiến như tái cấu trúc nhóm ngành, bổ sung chuyên gia trắc lượng khoa học và thu thập dữ liệu dựa trên bằng chứng không đơn thuần là sự điều chỉnh kỹ thuật. Đó là sự chuyển dịch về tư duy từ áp đặt định tính sang quản trị định lượng, chuyển từ tư duy cục bộ sang tư duy hệ thống và hội nhập.
Xây dựng Khung tiêu chuẩn GS, PGS cho một kỷ nguyên phát triển mới đòi hỏi một tầm nhìn chiến lược vượt thoát khỏi những lối mòn tư duy cũ. Việc tiếp thu các thông lệ quốc tế, tôn trọng bản chất tương đồng học thuật, minh bạch hóa cơ chế thực thi và tách biệt lợi ích trong soạn thảo chính sách là những chìa khóa quyết định thành công.
Hy vọng rằng, với sự cầu thị của cơ quan quản lý và lòng tự trọng, trí tuệ của các chuyên gia được chọn mặt gửi vàng, một khung tiêu chuẩn khoa học, hiện đại, khả thi sẽ sớm được hoàn thiện, góp phần đưa giáo dục đại học Việt Nam tự tin hội nhập vững vàng vào dòng chảy học thuật toàn cầu.
---
[1] Quyết định số 1972/QĐ-BGDĐT ngày 8/7/2026 về việc Thành lập Nhóm chuyên gia tư vấn xây dựng Khung tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư.
[2] Các Hội đồng ngành/liên ngành này được Chủ tịch Hội đồng giáo sư Nhà nước nhiệm kỳ 2024 – 2029 thành lập theo Quyết định số 300/QĐ-TTg ngày 11/4/2024 của Thủ tướng Chính phủ.
[3] Nghị định số 303/2025/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ;
Nghị định số 150/2025/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.