Hội đồng giải thưởng Yidan vừa công bố GS. Paul W. Glewwe là chủ nhân giải thưởng năm nay ở hạng mục Nghiên cứu giáo dục, ghi nhận gần bốn thập niên ông nghiên cứu những yếu tố quyết định việc học tập của trẻ em tại các nước đang phát triển.
Đây là hạng mục dành cho những công trình có tính đổi mới, chất lượng khoa học cao, tạo ảnh hưởng đến chính sách hoặc thực tiễn giáo dục. Giải thưởng trị giá 30 triệu HKD (tương đương 3,8 triệu USD), gồm 15 triệu HKD tiền thưởng và 15 triệu HKD kinh phí hỗ trợ người nhận giải phát triển, mở rộng tác động của công trình nghiên cứu hoặc sáng kiến giáo dục.
GS. Paul W. Glewwe. Ảnh: Yidan Prize
Trong phần công bố giải, Hội đồng đặc biệt nhấn mạnh một đóng góp xuyên suốt của Paul W. Glewwe: đưa những yếu tố nằm ngoài lớp học - nghèo đói, sức khỏe, dinh dưỡng, hoàn cảnh kinh tế gia đình - vào cùng phép phân tích với chất lượng trường học và kết quả học tập, qua đó giúp làm rõ mối quan hệ giữa giáo dục và bất bình đẳng.
Việt Nam là một trong những nơi Glewwe - nhà kinh tế học chuyên nghiên cứu về kinh tế phát triển, kinh tế giáo dục và đánh giá tác động của các chính sách công - theo đuổi câu hỏi đó lâu nhất. Nếu ở một nhánh nghiên cứu khác, ông cùng cộng sự cố lý giải vì sao học sinh Việt Nam đạt kết quả cao hơn nhiều quốc gia có mức thu nhập tương đương, thì một mạch nghiên cứu kéo dài hơn mười năm lại đặt câu hỏi gần như ngược lại: khoảng cách giữa những đứa trẻ được hình thành từ đâu, nhà trường làm gì với khoảng cách đã có, và chính sách có thể can thiệp tới mức nào?
Khoảng cách đã có trước lớp Một
Năm 2015, Paul Glewwe cùng các cộng sự công bố nghiên cứu [1] về khoảng cách học tập giữa trẻ em người Kinh và trẻ em dân tộc thiểu số ở Việt Nam, sử dụng dữ liệu Young Lives. Đây là bộ dữ liệu của một nghiên cứu quốc tế dài hạn do ĐH Oxford chủ trì, nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ trong những hoàn cảnh kinh tế - xã hội khác nhau, qua đó tìm hiểu nguyên nhân và hệ quả của nghèo đói ở trẻ em. Bộ dữ liệu theo dõi cuộc sống và quá trình trưởng thành của khoảng 12.000 trẻ em tại bốn quốc gia: Ethiopia, Ấn Độ, Peru và Việt Nam. Các đợt khảo sát chính diễn ra khoảng ba-bốn năm một lần, kể từ năm 2002 đến nay, trên nhóm nhỏ tuổi (sinh khoảng năm 2000-2001) và nhóm lớn tuổi (sinh năm 1994-1995).
Dựa trên dữ liệu Young Lives năm 2006, công trình của Paul Glewwe và các cộng sự cho thấy chênh lệch về kỹ năng toán và từ vựng giữa trẻ em người Kinh và trẻ em dân tộc thiểu số đã xuất hiện từ trước khi các em bước vào tiểu học. Trong nghiên cứu, trẻ được làm bài kiểm tra bằng ngôn ngữ mình lựa chọn, không nhất thiết phải là tiếng Việt. Khoảng cách điểm số vẫn tồn tại ngay cả khi so sánh những trẻ sống trong cùng cộng đồng.
Có nhiều yếu tố góp phần lý giải sự chênh lệch. Trong đó, trình độ học vấn của cha mẹ giải thích khoảng một phần ba khoảng cách điểm số. Ngoài ra, mức chi tiêu của hộ gia đình, tình trạng dinh dưỡng của trẻ (được đánh giá qua chiều cao của trẻ so với độ tuổi) và khả năng sử dụng tiếng Việt cũng liên quan đến kết quả kiểm tra.
Ở nghiên cứu này, Glewwe đã chỉ ra muốn thu hẹp bất bình đẳng trong học tập, chính sách giáo dục cần quan tâm đến cả những khác biệt đã hình thành từ trước khi trẻ đến trường. Nhưng nghiên cứu chưa trả lời được câu hỏi tiếp theo: khi cùng bước vào trường, những em khởi đầu bất lợi có tiếp tục tụt xa hơn không
Trường học có nới rộng thêm khoảng cách giáo dục?
Năm 2017, Glewwe cùng các cộng sự tiếp tục trả lời câu hỏi trên, có sự so sánh giữa Việt Nam và Peru. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu Young Lives 2002, 2006 và 2009 [2].
Trong công trình này, nhóm tác giả không đơn giản so trẻ nhà nghèo với trẻ nhà giàu, hay trường khó khăn với trường thuận lợi mà dùng một thang đo hẹp hơn: trong cùng một trường, những học sinh có xuất phát điểm bất lợi có tiến bộ chậm hơn các bạn thuận lợi hơn không?
"Bất lợi" được xác định theo nhiều tiêu chí: điều kiện kinh tế hộ gia đình, năng lực nhận thức lúc 5 tuổi, trình độ học vấn của mẹ và tình trạng dinh dưỡng. Bằng cách đối chiếu năng lực nhận thức ban đầu với kết quả học tập ở những năm sau, nhóm nghiên cứu có thể phân biệt tương đối khoảng cách đã tồn tại từ trước với những chênh lệch có thể phát sinh trong quá trình đi học.
Kết quả chỉ ra ở Peru, một số nhóm học sinh bất lợi tiến bộ chậm hơn các bạn có lợi thế trong cùng trường. Trong khi đó, tại Việt Nam, nhóm tác giả không tìm thấy bằng chứng cho thấy trường học khiến học sinh có hoàn cảnh bất lợi tụt lại xa hơn so với bạn học có lợi thế. Nói cách khác, khoảng cách học tập không nhất thiết tiếp tục nới rộng trong trường học. Tuy nhiên, kết quả này cũng không có nghĩa những chênh lệch đã hình thành từ trước sẽ tự động biến mất.
Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn xét giới tính để tìm hiểu liệu bé trai và bé gái có tiến bộ khác nhau trong cùng môi trường học tập hay không. Kết quả tại Việt Nam khá bất ngờ: dù bé trai có điểm kiểm tra nhận thức cao hơn trước khi vào tiểu học, bé gái lại tiến bộ hơn trong những năm đầu đi học.
Sự khác biệt giữa hai quốc gia cho thấy nhà trường có thể đóng những vai trò khác nhau đối với khoảng cách học tập. Ở một hệ thống, những bất lợi ban đầu có thể đi kèm với mức tiến bộ thấp hơn, khiến khoảng cách giáo dục tiếp tục nới rộng. Ở một hệ thống khác, trẻ có xuất phát điểm bất lợi không nhất thiết tụt xa hơn bạn bè cùng trường.
Tuy vậy, Glewwe và các cộng sự vẫn hết sức thận trọng, không suy từ kết quả nghiên cứu thành có một chính sách cụ thể của Việt Nam đã tạo ra sự khác biệt này. Trong phần kết luận, nhóm tác giả chỉ nhận định rằng kết quả phù hợp với những bằng chứng trước đó về quá trình Việt Nam mở rộng giáo dục tiểu học, đồng thời chú trọng bảo đảm các chuẩn chất lượng tối thiểu.
Về mặt chính sách giáo dục, công trình của Glewwe và các cộng sự gợi ý rằng nếu nhà trường có thể hạn chế khoảng cách giáo dục bị nới rộng, liệu việc chủ động thay đổi cách tổ chức dạy và học có giúp các em khởi đầu bất lợi tiến bộ tốt hơn, qua đó thu hẹp khoảng cách trong quá trình học tập?
Trường học có thể bù đắp đến đâu?
Một cơ hội để kiểm tra câu hỏi ấy xuất hiện với mô hình Trường học mới Việt Nam - VNEN.
VNEN được Việt Nam điều chỉnh từ mô hình Escuela Nueva của Colombia. Mô hình này khuyến khích học sinh chủ động học tập, làm việc theo nhóm, trong khi giáo viên đóng vai trò hướng dẫn thay vì chỉ truyền đạt kiến thức. VNEN được triển khai rộng rãi ở bậc tiểu học từ năm 2012.
Sau đó, Paul Glewwe đã tham gia nghiên cứu đánh giá tác động của VNEN lên cả kỹ năng nhận thức (toán, tiếng Việt) và kỹ năng xã hội - cảm xúc [3].
Bàn ghế của lớp học theo mô hình VNEN được kê theo hình chữ U. Ảnh: Lan Hạ
Kết quả chỉ ra rằng VNEN có những tác động tích cực nhưng tương đối khiêm tốn, và tác động ước tính lớn hơn đối với nam sinh, học sinh dân tộc thiểu số và học sinh ở miền Bắc. VNEN cũng làm tăng vừa phải kỹ năng xã hội - cảm xúc; riêng với học sinh dân tộc thiểu số, mức tác động lớn hơn và đạt ý nghĩa thống kê.
Tuy vậy, VNEN không tạo ra một câu chuyện thành công đơn giản. Sau 5-7 năm, phần lớn các kỹ năng được đánh giá không còn thể hiện sự cải thiện rõ rệt gắn với chương trình nữa. Điều này đặt ra câu hỏi: làm thế nào để những chuyển biến tích cực ban đầu có thể được duy trì lâu dài khi triển khai một mô hình giáo dục mới?
Nhìn chung VNEN cho thấy nhà trường có thể thay đổi quỹ đạo của những đứa trẻ bước vào lớp học với bất lợi sẵn có, nhưng chưa đủ để coi đây là một hiệu quả bền vững và sâu rộng.
Năm 2024, Paul Glewwe tiếp tục nghiên cứu VNEN từ góc tiếp cận khác [4]. Lần này, họ không tập trung trước hết vào điểm số mà vào hành vi học tập: VNEN có làm học sinh tham gia lớp học theo cách khác đi hay không, và những thay đổi ấy có tiếp tục tồn tại sau khi các em chuyển lên trung học cơ sở, nơi chương trình không còn được áp dụng?
Nghiên cứu cho thấy học sinh từng học VNEN có xu hướng đặt câu hỏi trong lớp nhiều hơn, cho phản hồi và nhận phản hồi từ bạn học nhiều hơn. Đây chính là những hành vi mà mô hình học tập hợp tác hướng tới. Một số hành vi học cùng bạn còn được quan sát trong giai đoạn sau khi học sinh đã rời môi trường VNEN.
Kết quả này bổ sung một tầng khác cho vấn đề can thiệp: tác động của chính sách giáo dục có thể nằm ở cách trẻ tham gia vào việc học, chứ không chỉ ở thay đổi điểm số ngay sau khi chương trình kết thúc.
Chuỗi nghiên cứu giáo dục Việt Nam của Glewwe từ năm 2025 đến nay cho thấy quỹ đạo bất bình đẳng giáo dục, dù bám rễ vào trẻ từ trước khi tới trường, vẫn có thể thay đổi trong quá trình đi học. Chính sách giáo dục, dù không thể xóa ngay mọi bất lợi trẻ đã mang theo từ gia đình, vẫn có thể ảnh hưởng đến việc những bất lợi ấy tiếp tục tăng lên hay dần được thu hẹp trong quá trình học tập.
Hội đồng giải thưởng Yidan đặc biệt nhấn mạnh công lao của ông trong việc thay đổi cách nghiên cứu mối quan hệ giữa giáo dục và nghèo đói. Glewwe đã góp phần đưa các phép đo về đọc viết, tính toán và tư duy trừu tượng của cả trẻ em lẫn cha mẹ vào dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình. Nhờ đó, các nhà nghiên cứu không còn phải dựa chủ yếu vào số năm đi học để đánh giá vốn giáo dục của một gia đình. Họ có thể tìm hiểu trực tiếp hơn trẻ đã tiếp thu được những kỹ năng gì, cha mẹ có những năng lực nền tảng nào, rồi đối chiếu các kết quả ấy với thu nhập, dinh dưỡng, sức khỏe và điều kiện sống của gia đình.
Sự thay đổi trong cách đo mở ra một khả năng nghiên cứu quan trọng. Khoảng cách học tập của trẻ có thể được truy ngược tới những điều kiện đã tồn tại trong gia đình từ trước khi các em bước vào trường; cùng lúc dữ liệu của cha mẹ cho phép xem xét cách bất lợi về kinh tế và giáo dục được tích lũy qua các thế hệ. Yidan Prize coi những đóng góp của Glewwe cho việc phát triển nền tảng bằng chứng này là một phần quan trọng trong nỗ lực cải thiện chính sách giáo dục ở các nước đang phát triển.
Ngoài ra, ông là một trong những nhà kinh tế sớm đưa các kỹ năng xã hội - cảm xúc vào phân tích giáo dục và phát triển, đồng thời kiên trì đánh giá xem một chương trình có thực sự làm thay đổi việc học hay không trước khi biến nó thành khuyến nghị chính sách.
[1] What Determines Learning among Kinh and Ethnic Minority Students in Vietnam? An Analysis of the Round 2 Young Lives Data. Asia & the Pacific Policy Studies, 9/9/2015. https://onlinelibrary.wiley.com/doi/full/10.1002/app5.102
[2] Do Schools Reinforce or Reduce Learning Gaps between Advantaged and Disadvantaged Students? Evidence from Vietnam and Peru. Economic Development and Cultural Change, 24/5/2017. https://www.journals.uchicago.edu/doi/10.1086/691993
[3] The Impact Evaluation of Vietnam’s Escuela Nueva (New School) Program on Students’ Cognitive and Non-cognitive Skills 2023-11-28. Kho lưu trữ nghiên cứu trực tuyến của Đại học Oxford, 28/11/2023. https://portal.sds.ox.ac.uk/articles/preprint/The_Impact_Evaluation_of_Vietnam_s_Escuela_Nueva_New_School_Program_on_Students_Cognitive_and_Non-cognitive_Skills/24649038?file=43318593
[4] Collaborative Learning in the Vietnam Escuela Nueva Model and Students’ Learning Behaviors: A Mixed Methods Longitudinal Study. International Journal of Educational Development (2024). https://escuelanueva.org/wp-content/uploads/2024/05/Collaborative-learning-in-the-Vietnam-Escuela-Nueva-Model-and-students-learning-behaviors-A-mixed-methods-longitudinal-study.pdf