Tương tự như đán trong Kinh Kịch ở Trung Quốc, minukka trong kịch Kathakali ở Ấn Độ, hay thậm chí là các boy player trong sân khấu Shakespeare thời Elizabeth, onnagata là thuật ngữ chỉ một diễn viên nam đóng vai nữ trong kịch kabuki.
"Onnagata là đứa con sinh ra từ cuộc giao hoan bất chính giữa giấc mơ và hiện thực", văn hào Yukio Mishima, một người yêu kịch nghệ Nhật Bản truyền thống, từng viết trong truyện ngắn của mình.
Một lược sử onnagata trên màn ảnh
Thế giới bí ẩn của onnagata đã luôn là vương quốc cho những nhà làm phim Nhật, trong mọi thời kỳ. Thời kỳ vàng của điện ảnh Nhật có Chuyện hoa cúc muộn (The story of the last chrysanthemum) của bậc thầy Mizoguchi Kenji. Đến Làn Sóng Mới Nhật Bản lại có Diễn viên báo thù (An actor’s revenge) của Ichikawa Kon. Và điện ảnh đương đại có Quốc bảo (Kokuho) của đạo diễn Nhật gốc Hàn Lee Sang-il, chuyển thể từ tiểu thuyết gốc của Yoshida Shuichi.
Điểm chung? Tác phẩm nào dường như cũng mang đến cảm thức của một cuộc giao hoan bất chính giữa giấc mơ và hiện thực, làm ta rúng động, làm ta sợ hãi trước sự đàn áp của cái đẹp. Tác phẩm nào cũng đẹp khốc liệt, đẹp choáng váng, nhưng cũng tàn nhẫn tột cùng.
Chẳng hạn, cảnh cuối kinh điển của Chuyện hoa cúc muộn: khi người diễn viên thủ vai onnagata được công kênh ở đỉnh vinh quang còn người vợ đã nếm mật nằm gai cùng anh từ buổi hàn vi nằm trên giường bệnh hấp hối.
Hay trong Diễn viên báo thù, một onnagata đầy thù hận mang lớp điểm trang cùng kỹ nghệ sân khấu điêu luyện bước ra ngoài đời thực để lên kế hoạch trả thù những kẻ gây ra cái chết của cha mẹ mình. Trong tác phẩm mê hoặc về thị giác ấy, người diễn viên đã biến hiện thực thành sân khấu báo oán của riêng mình.
Đó đều là những tham chiếu thú vị để ta đọc Kokuho.
Một cảnh trong phim Kokuho. Nguồn: VnExpress
Yakuza gặp Kabuki
Kokuho bắt đầu bằng vở diễn Seki no to (Cổng chắn), trong đó một ác nhân giả dạng làm người gác cổng để chiếm đoạt ngôi báu và bị linh hồn cây hoa anh đào cổ thụ, hay hóa thân của một nàng kỹ nữ, trả thù.
Người vào vai linh hồn anh đào là cậu bé Kikuo, con trai một thủ lĩnh băng đảng giang hồ, lập tức được một diễn viên kabuki nức tiếng là Hanai Hanjiro Đệ Nhị nhận ra tài năng.
Ngay trong đêm ấy, cha của Kikuo bị kẻ thù giết. Trả thù cho cha bất thành, cậu trở thành học trò được Hanai Hanjiro bảo trợ.
Kikuo lớn lên cùng Shunsuke, con trai ruột của Hanai Hanjiro. Cả hai cùng luyện tập trở thành onnagata. Họ là tri âm, cũng là đối thủ. Để rồi, bộ phim theo chân Kikuo qua những thăng giáng cuộc đời cho đến khi trở thành diễn viên kabuki vĩ đại nhất Nhật Bản.
Tại sao lại phải là con trai một thủ lĩnh yakuza khét tiếng? Liệu bỏ chi tiết ấy, bộ phim có khác đi không? Có lẽ là có.
"Ở đỉnh cao, tất cả chúng ta đều cô độc", đó là tuyên ngôn của một thủ lĩnh yakuza trong lịch sử băng nhóm Nhật Bản.
Yakuza không chỉ là tội phạm. Yakuza cũng có hệ thống triết lý, hệ thống đạo đức riêng, họ tự coi mình là người hành hiệp trượng nghĩa. Họ sống ngoài vòng pháp luật, ngoài vòng nhân sinh thông thường. Chẳng phải kịch kabuki cũng có một vương quốc riêng, với những luật định riêng, không thể hiểu được với người ngoài, những người sẽ chỉ luôn chiêm ngắm kabuki với sự kính phục, tò mò, và có thể là cả sợ hãi?
Và rồi, ở đỉnh cao, một diễn viên kabuki cũng hoàn toàn cô độc. Sự vĩ đại luôn có cái giá của nó. Ta sẽ thấy sự cô độc cực điểm của những người đạt đến phong hiệu Quốc bảo như Mangiku Onogawa, vị quốc bảo đã sớm nhìn ra thiên khiếu của Kikuo, và chính Kikuo.
Hơn nữa, yakuza còn gặp gỡ kabuki ở sự đề cao mối quan hệ cha - con. Sư phụ và đệ tử trong kabuki cũng như oyabun (phận làm cha, hay thủ lĩnh) và kobun (phận làm con, hay đàn em) trong một hội nhóm yakuza. Sự trung thành, kỷ luật, tôn ti, đó là những giá trị cổ điển của cả hai lĩnh vực. Mối quan hệ cha - con là một xương sống của Kokuho: ta có người cha thực vắng mặt đã chết từ những phút đầu của phim, ta có người cha thay thế là Hanai Hanjiro II; ta có đứa con trai ruột bỏ nhà đi bụi Shunsuke, cũng có đứa con trai nuôi Kikuo thừa kế họ tên của Hanai Hanjiro II để rồi bị công chúng coi là đứa con hoang tâm cơ, dơ bẩn.
Thêm một chi tiết kết nối hai thế giới tưởng chừng khác biệt giữa yakuza và kabuki lại với nhau: sau khi cha mất, Kikuo có một hình xăm lớn trên lưng hình chim cú đại bàng. Hình xăm là truyền thống của những tay yakuza, và họ thường chỉ xăm lên những bộ phận cơ thể được áo quần che khuất, như một vẻ đẹp ẩn mật, một mật ngữ. Trong Kokuho, khi rơi xuống đáy cùng, Kikuo phải biểu diễn trong những nhà hàng, những quán rượu tạp nham, với những kẻ thô lỗ, vô học, chẳng hiểu gì về kabuki làm khán giả. Chúng không biết onnagata là do diễn viên nam đóng, và vì thế tưởng Kikuo là đàn bà. Khi lột lớp kimono của anh, chúng ghê tởm trước hình xăm lớn. Ít ai hiểu được vẻ đẹp của những hình xăm trổ trên lưng yakuza, cũng chẳng mấy ai thực sự hiểu cái đẹp của kabuki.
Đằng sau cái sân khấu lung linh kia, đằng sau những màn trình diễn siêu trần kia, là một thế giới khắc nghiệt, đen tối, tàn nhẫn?
Điều thú vị là, khi một onnagata khoác lên chiếc kimono, trở thành một người đàn bà, mà với người Nhật, bộ phận quyến rũ nhất của người đàn bà là chiếc gáy. Ống kính của đạo diễn cũng nhiều lần hướng đến gáy của Kikuo. Nhưng ngay dưới phần gáy duyên dáng ấy, lại là hình xăm hung hãn, như ngụ ý rằng, đằng sau cái sân khấu lung linh kia, đằng sau những màn trình diễn siêu trần kia, là một thế giới khắc nghiệt, đen tối, tàn nhẫn?
Cái đẹp và sân hận
Kikuo không trả thù được cho cha. Nhưng lòng căm hận của anh có vơi bớt? Ta không thấy bộ phim còn nhắc lại ý định trả thù của Kikuo nữa. Song, những dồn nén đó đã có một nơi khác để phóng chiếu: kabuki.
Kịch kabuki có rất nhiều vở diễn mang oán khí, mang sự đố kỵ, mang tâm sân hận. Làm thế nào để Kikuo, một kẻ không sinh ra trong gia đình có truyền thống kịch nghệ – điều tối kỵ trong thế giới kabuki – lại trở thành người vĩ đại nhất?
Anh tài năng, hẳn rồi. Nhưng không chỉ tài năng làm nên sự vĩ đại. Cả tâm sân hận, nỗi oan ức, sự vị kỷ, lòng đố kỵ tích lũy cũng khiến anh vĩ đại. Kikuo nói sẵn sàng giao kèo với quỷ để đạt đến sự thăng hoa nghệ thuật. Trên thực tế, anh đã dụ dỗ, đã phụ bạc nhiều người đàn bà trên đường mình đi. Đứa con gái mang phức cảm với anh: cô căm ghét hành động của cha nhưng bị nghệ thuật của cha thu phục.
Nghệ thuật luôn hoàn hảo. Cái đẹp luôn hoàn hảo. Người làm ra nghệ thuật và người truy tầm cái đẹp lại đầy khiếm khuyết. Đó là lời nguyền hay phước lành của nghệ sĩ? Rằng đó có thể vừa là một tên khốn và vừa là một bậc thầy, rằng trong tất cả những giới hạn của một con người cá nhân, vẫn có những giây phút họ đạt đến một điều gì đó cao thượng, thần thánh, diễm ảo, vượt xa khỏi chính mình, chạm tới một cảnh giới rất cao, rất xa.
Tất nhiên, cả khổ đau cũng tạo ra sự vĩ đại của cái đẹp. Shunsuke mang thân thể hỏng hóc vì tiểu đường - một chân đã bị cưa đứt, một chân bắt đầu hoại tử - lên sân khấu. Cái chân sưng tếu, biến dạng của Shunsuke thò ra và Kikuo, lần này trong vai nam chính, ôm lấy. Cái đẹp tột độ gặp cái xấu tột cùng, và nghệ thuật sinh ra trong cuộc truy hoan đó. Phân cảnh kinh điển của vở này, trong đó đôi tình lữ bộ hành tới nơi tự sát, cũng trở nên kịch tính, quặn thắt gấp nhiều lần khi Shunsuke bước đi khó nhọc, đổ rầm xuống và lại lê lết đứng lên.
Hiện thực đã gặp sân khấu, không còn ranh giới giữa nhân vật và diễn viên: nỗi đau của họ hòa quyện, tình yêu của họ hòa quyện, sức mạnh của họ hòa quyện. Với Shunsuke, tiếp tục diễn đến cùng cũng là một kiểu tự sát. Nhân vật nữ trong vở kịch tuẫn tiết vì người yêu, còn Shunsuke tuẫn tiết vì nghệ thuật.
Hãy xem, cả Kikuo và Shunsuke đều có những chặng đời đi hoang. Họ đóng kịch ở những nơi chẳng ai hiểu gì về kịch, nơi kịch chẳng phải nghệ thuật mà chỉ là màn múa may vui mắt, là hậu cảnh của những cuộc say suốt tháng trận cười suốt đêm. Tham chiếu với Chuyện hoa cúc muộn, nhân vật chính cũng trải qua những năm tháng trầy trật, bị vùi dập trong những đoàn kịch quê mùa trước khi chạm tới đỉnh cao diễn xuất.
Không có đau khổ, làm gì có nghệ thuật.
Sự tàn nhẫn của cái đẹp
Phóng viên hỏi Kikuo khi anh đã lên nấc thang cao nhất của nghề diễn, rằng có gì mà anh còn muốn chạm tới, sau tất cả. Anh đáp: phong cảnh. Nhưng chính anh cũng chẳng thể diễn đạt phong cảnh là gì.
Lần đầu Kikuo thấy "phong cảnh" là khi xem Mangiku diễn Sagi Musume (Vũ khúc nàng chim diệc). Nàng trải qua rất nhiều tạo hình, múa điên cuồng trong tuyết, mỗi vũ khúc lại kể một chuyện tình trắc trở, bất thành, đến cuối cùng hiện nguyên hình là linh hồn một con chim diệc bị hành hạ trong u minh. Màn trình diễn mỹ lệ siêu thực của Mangiku đã để lại một phong cảnh trong Kikuo: những đốm lấp lánh như những vì sao, những bông tuyết, như một ảo giác trong đêm tối. Và cả đời, Kikuo đã theo đuổi "phong cảnh" ấy. Vở diễn cuối trong phim cũng là Kikuo diễn nàng diệc. Bây giờ thì hẳn Kikuo đã hiểu, muốn thấy "phong cảnh", phải bị đoạ chốn âm ty.
Khán giả có thể đặt câu hỏi: tại sao những onnagata diễn vai nữ giới, và đều là những số phận nữ bi kịch, đau thương, nhưng trong cuộc đời thực, họ lại đối xử tệ bạc với đàn bà? Tại sao đằng sau cái đẹp lại là rất nhiều đau thương, của cả mình và người khác?
Sân khấu phải chăng là lừa mị? Nghệ thuật phải chăng là mặt nạ? Cái đẹp phải chăng là giả trá?
Có thể, rất có thể. Nhưng đó là kiến thức mới ư? Đâu có. Trong Anh em nhà Karamazov, Dostoevsky đã viết: "...Cái đẹp là một thứ kinh khủng và khiếp đảm! [...] Điều đáng sợ là cái đẹp không chỉ kinh hãi mà còn đầy bí ẩn. Chúa và Quỷ dữ đang giao chiến ở đó, và chiến trường chính là trái tim con người..."
Trong trái tim đó có cái đẹp đẽ, cái xấu xa, có quỷ, có thần. Chỉ trách trái tim con người quá rộng lớn.